Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
                       Treo Áo Từ Quan
                                    (Kịch Thơ Một Màn, Một Cảnh)                
                       
Bối cảnh lịch sử:
(Xin xem Thất Trảm Sớ)
Sau khi dâng 'Thất trảm sớ' xin vua chém bẩy quyền thần gian nịnh để cứu nguy xã tắc,
nhưng vua  không nghe, thầy Chu Văn An đã "treo áo từ quan" bỏ về núi Chí Linh ẩn danh
dạy học, đúng như phong cách của một người quân tử trong đạo Nho "Xuất Xử Hành
Tàng"...

Nhân Vật:
1- Thầy Chu Văn An: Quan Tư Nghiệp Quốc Tử Giám (có sách viết là quan Tế Tửu), một
chức quan nhỏ dạy học trong Triều đình vua Trần Dụ Tông, trên 60 tuổi.
2- Đao phủ thủ: Tính cương trực, giữ việc chém kẻ có tội.
3- Chị Đao: Vợ Đao phủ thủ, khôn lanh, hiếu học.
4- Trương sinh: Học trò, tuổi trẻ.
5- Thái Giám: Hoạn quan, có quyền hành lớn trong triều, nhờ biết nịnh hót vua.
6- Thầy Đồ: làm nghề dạy học, đi đây đó truyền bá Đạo Khổng Mạnh.

Cảnh: Cảnh ngoài cửa Ngọ môn, vào buổi trưa.

Nhạc đệm: Vui nhộn.

Mở màn:
Ba hồi chiêng trống, tiếp theo tiếng ngâm hậu trường:
"Triều đình chính sự nhiễu nhương"
"Người ngay đâu tá? Rần rần kẻ gian"
"Thôi thà treo áo từ quan"
"Nếp nhà thanh đạm, hành tàng ngẫm suy"

Hồi Một
Chị Đao
(đi tìm chồng, vẻ sốt ruột, vừa đi vừa nói một mình):
- Quái lạ!
Mặt trời lên cao, đã quá ngọ rồi.
Tiếng trống  chầu cũng đã buông lơi,
Sao chưa thấy bố thằng cu đâu nhỉ?
(Chị Đao đang đi bỗng gặp thầy đồ dạy học lễ mễ ôm một mớ giấy, bèn cúi đầu chào):
- Kính chào Thầy Đồ ạ!
Thầy Đồ:
- Không dám. Chào chị Đao.
Hôm nay chị rảnh rỗi,
Đi chơi đâu thế này?
Chị Đao :
-Thưa thầy, con đến đón nhà con.
Thầy đi đâu mà tay xách nách mang,
Giấy tờ nhiều đến thế?
Thầy Đồ (mở ra hai cuộn giấy đưa cho chị Đao và giải thích):
-  À ! Đó là mấy tấm bích chương,
Dán tường quảng bá lập ngôn của Thầy.
Chị Đao  (đón lấy):
- Thế ạ, con xin thầy.
Thầy Đồ:
- Chị hãy đem về treo lên vách,
Để người đời có dịp gẫm suy...
Chị Đao:
- Xin Thầy giảng giải,
Chữ nghĩa con chỉ biết tí ti...
Thầy Đồ:
- Đây là tấm: "Nhân chi sơ, tính bản thiện"
Có nghĩa là: Ta mới sinh ra tính thiện, hiền lành.
Còn tấm này : "Quân tử, xuất xử hành tàng"
Xuất ra, xử ở, hành làm, tàng ẩn danh.
Chị Đao:
- Dạ Dạ...Xuất ra, xử ở nhà...làm tàng...ơ..ơ..!
Thầy Đồ:
- Không phải ...không phải.
Hành là làm, là hành động.
Tàng là ẩn mình, ẩn danh.
Bộ ở nhà chồng chị hay làm tàng lắm hả?
Chị Đao (hát theo điệu trống quân):
- Thưa thầy...
Chồng con (là)...chồng chúa (ấy) vợ tôi...
Ở nhà...(thì) quát tháo (chứ) ra ngoài (lại)...nín khe!
Thầy Đồ (theo điệu trống quân):
- Này chị Đao...
Bởi chồng chị làm nghề đao phủ thủ...cho nên...
Ở nhà... (thì) chồng nói (chứ )...vợ nghe...
Ra ngoài... (thì) "đao" nói ...(chứ)...mô tê nói gì?
Chị ráng (mà) học "nhẫn" như con chi chi...
'Tính bản thiện" đó...thực thi điều lành.
Chị Đao:
- Thưa thầy ..."Nhân chi sơ" con đã hiểu rành,
Nhưng, "Quân tử"...ư... ơ ...khó quá...
Con đành chịu thua!
Thầy Đồ (cười sảng khoái):
- Ha...ha...ha...
Quân tử là một mẫu người,
Vào đời xử thế,  tùy thời tùy cơ...
"Khi ra, tay kiếm tay cờ.
"Khi về, chén rượu, câu thơ, bạn nhàn...
"Khi hành động, Dũng, Tri, Nhân.
"Khi điều nghịch lý, từ quan chẳng màng!
Ha...ha...ha...!
(Giảng nghĩa xong thầy Đồ phất tay áo rộng bỏ đi như khói như mây.)
Chị Đao (ngơ ngác nhìn theo):
- Thưa thầy...thưa thầy...
Ôi! Thầy Đồ thanh thoát như Tiên,
Mới đây một thoáng, đã về miền núi cao...
Mới lạ làm sao! Mới lạ làm sao!
Trương sinh (từ trong đi ra, thấy chị Đao bèn chào thật lớn, khiến chị Đao giật nẩy mình):
- Chị Đao!
Chị Đao (giật mình, bỏ chạy chúi đầu xuống đất):
- -i!
Trương sinh:
- Trương sinh đây mà, chị Đao.
Chị Đao (hoàn hồn):
- A ...thì ra là chú học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm...
Làm người ta hết hồn à!
Trương sinh (sợ hãi, ra phía trước vái dài):
- Thế ạ...xin lỗi chị Đao...
Nhưng...chị làm gì mà ngơ ngác thế?
Tôi nghe đồn có máu nhuộm bãi dâu,
"Thất Trảm Sớ", chém bẩy đầu.
Ông Đao chắc phải phờ râu phen này!
Chị Đao:
- Này chú Trương,
Chú nghe ai đồn, mà ghê quá vậy?
Việc Triều đình, tôi hay biết gì đâu.
Chồng tôi thi hành nhiệm vụ chém đầu
Kẻ gian ác, nhưng thế nào là "Thất Trảm Sớ"?
Trương sinh:
- Ủa! Chị Đao không biết thật ư?
"Thất Trảm Sớ" là sớ xin vua
Chém bẩy quyền thần gian nịnh.
Chuyện này đồn khắp dân gian,
Ai mà chẳng biết!
Chị Đao :
- Thật vậy sao? Ai dâng sớ mà không sợ chết?!
Trương sinh:
- Còn ai vào đây, ngoài Chu Tế Tửu đại nhân.
Chị Đao (la lên):
- Thế thì nguy rồi...!
Trương sinh:
- Sao lại nguy?
Những kẻ chuyên quyền, gian manh đền tội,
Thì dân đen mới ngóc nổi đầu lên.
Cỏ dại kia không nhổ sạch một phen,
Lúa yếu đuối bị lèn đầu xiết cổ!
Chị Đao :
- Chú Trương ơi! Chồng tôi là đao phủ thủ.
Phen này, không chừng thất thố lương tâm.
Chẳng chém kẻ gian, mà hại trung thần,
Bởi lệnh vua ban ai mà dám cãi?
Trương sinh:
- Này chị Đao, chị nói gì lạ vậy?
Thầy Chu Văn An yêu nước yêu dân.
Vì thấy xã tắc lâm nguy
Bởi đám nịnh thần,        
Nên mới liều mình ra tay viết sớ.
Làm hại người ngay, ai nỡ...!
Chị Đao  (bỗng khóc hu hu...):
- Hu hu...thế thì càng nguy nữa!
Trương sinh (kinh ngạc):
- Ơ kìa...ơ kìa! Tại sao chị khóc?
Đao phủ thủ "hiền lành", có tội gì đâu.
Từ xưa đến nay, chỉ biết chém đầu
Theo lệnh cấp trên, làm sao có tội?!
Chị Đao :
- Chú không biết đâu, chồng tôi xốc nổi,        
Tính ngang như cua, đã nói thì làm:
"Đao chỉ chém đầu những kẻ gian tham"
"Gian không chết, người ngay thề không giết..."
-i giời ơi! Gian không chết, thầy Chu phải chết.
Nhưng mà chồng tôi không giết người ngay!
Bất tuân lệnh vua, ai sẽ chết đây?
Khổ quá...bố thằng cu ơi là bố thằng cu...!
Trương sinh:
- Ơ ...ờ...là ra thế...
Nhưng hư thực còn ngờ.
Chị hãy nín đi.
Biết đâu ...gian thần đã...bơ vơ nơi chín suối.
(tiếng vọng tới từ Triều đình):
- "Truyền bãi trào...!"
(tiếp theo là tiếng trống "cắc tùm" nghe rợn gáy như tiếng trống đưa ma, khiến chị Đao và
Trương sinh  hồi hộp đợi chờ)
Chị Đao (chỉ Thái Giám đang đi ra cổng một cách hiu hiu tự đắc):
- Chú thấy không kìa, gian thần phách lối.
Còn người ngay...trời hỡi... về đâu?
Trương sinh:
- Đâu...đâu...gian thần đâu? Gian thần đâu?
Tôi chỉ thấy  "quan không râu"...đẹp đẽ.
Hai tay múa may, như gà mắc đẻ...
Í ...không phải...như gà trống nuôi con.
Còn cái đầu gật gù ...như tìm trứng ấp, phải... chăng?
Chị Đao (đang khóc bật cười):
- Hì hì...chú nói lạ chưa...gà trống nuôi con...?
Trống thiến đó... trứng đâu còn mà kiếm.
Trương sinh (Le lưỡi, thấy Thái Giám tiến gần đến phía mình, vội đưa ngón tay lên miệng
ra dấu im lặng rồi cúi đầu chào):
- Suỵt! Ông ấy đến kìa.
Kính chào quan đại thần ạ!
Thái Giám (khinh khỉnh nhìn Trương sinh):
- Này! Học trò học choẹt,
Học mẹt bánh tôm.
Không lo học, lơn tơn chi đó?
Chị Đao:
- Kính chào quan Công Công.
Thái Giám:
- Còn mụ Đao này nữa,
Sao chẳng  lo toan việc bếp núc ở nhà,
Mà bù lu, bù loa khóc than chi hả?
Chị Đao (gạt nước mắt):
- Dạ...
Em chờ chồng em ..quan có thấy chồng em không ạ?
Thái Giám (cười nhạt):
- Thì ra mụ đi tìm chồng...
Chồng mụ cao thước mấy?
Chị Đao:
- Dạ Qnan hỏi bề cao của chồng con chi vậy?
Thái Giám (lên giọng hù):
- Hừ...Tên Đao phủ thủ này, đúng là vô tích sự,
Đã thế, còn nhăm nhe dựa thế "ông cuồng"
Thôi chị hãy về... may áo cho chồng,
Đủ 6 tấm nghe chưa? Kẻo mùa đông lạnh lẽo!
Chị Đao (sợ tái mặt, la lên rồi té sỉu):
- Quan nói sao?...Trời chồng em...!
-i bố thằng cu...!
T
rương sinh (vội ì ạch đỡ tấm thân bồ tượng của chị Đao, vừa khấn):
- Chị Đao...Bớ chị Đao!
"Ba hồn chín vía ở đâu thì về..."
Chị Đao (tỉnh dậy, ngơ ngác):
- Đây là đâu? Là âm phủ nơi nào?
Ô kìa quan Thái Giám...!
Ngài cũng xuống tới âm ti rồi sao?
Thái Giám:
- Bậy nào!
Ta còn sống thêm ngàn năm nữa...
Cho dẫu chết rồi, xác ướp tới ngàn sau.
Nói cho mi nghe tên đao phủ thủ "điên đầu"
Cứ nhắng nhít mài dao,
Có ngày ...về địa ngục. Nghe chưa?

Hồi Hai  
(Thầy Chu Văn An đi ra vừa nói chuyện với Đao phủ thủ)
Thầy Chu Văn An:
- Này anh Đao phủ thủ.
Đao của anh có sắc?
Để vận nước chông chênh...
Sớ ta như sấm trên không
Vang rền thế đó... mà dường hư vô!
Đao phủ thủ:
- Thưa Thầy vận nước...thiên cơ...        
Khó mà chuyển được thế cờ hưng suy!
Chị Đao  (thấy chồng ra về an toàn thì mừng rỡ, nhưng khi thấy thầy Chu Văn An thì lùi lại):
- Ô! Kìa bố thằng cu...
Chưa làm điều thất đức,
Xin cảm tạ Trời Phật, Ông Bà thương xót.
Hồn thiêng sông núi xét soi...
Đao thủ (cười, ra nắm lấy tay vợ giới thiệu với Thầy):
- Ha ha ha!
Đây là thầy Chu Tế Tửu,
Đã cứu ta thoát khỏi rơi đầu.
Chị Đao:
- Con kính chào Thầy.
Xin tạ ơn cứu mạng chồng con...
Thầy Chu Văn An:
- Không dám...không dám.
Ta chẳng có công.
Cũng nhờ hồng phúc tổ tông,
Đầu ta còn khó giữ,
Chớ nào mong cứu người.
Đao phủ thủ (khen vợ):
- Mẹ đĩ hôm nay cũng hiểu chuyện đời...
Nhăng nhố lắm! Ta về thôi kẻo trễ.
Trương sinh (Cúi chào thầy Chu Văn An):
- Con là Trương sinh kính chào Thầy khả kính.
Thưa thầy sấm ở trên cao,
Ông Trời có mắt, lẽ nào bỏ qua...
Thất trảm sớ, một món quà,
Thiên hạ đón nhận để mà gẫm suy!
Thầy Chu Văn An (cười an ủi):
-  Được. Được lắm!
Tuổi trẻ không còn đam mê
Mồi danh lợi, mà quên đi sử sách.
"Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách"
Đọc sách Thánh hiền, bỏ mặc được sao?
Giang sơn đang đợi anh hào.
Thái Giám  (thấy thầy Chu Văn An, bèn nhào tới nói giả lả):
- Chào thầy Chu Tế Tửu Quốc Tử Giám.
Thầy đúng là một vị anh hùng
Biết lo âu, trước tồn vong nước Việt...
"Thất Trảm Sớ"...mang  tấm lòng trung liệt!
Nhưng ...cũng gây ra...
Mất đoàn kết trong triều!
Thầy Chu Văn An (cười):
- Đoàn kết đục khoét của công,
Mặc dân đói khổ, đành lòng hay sao!
Bẩy người chức trọng quyền cao,
"Trung ương quyền lực", lẽ nào Ngài không hay?
Thái Giám  (cãi):
- Nhưng còn Hoàng Thượng xét soi,
"Sự nghiệp vĩ đại", thay trời trị dân.
T
hầy Chu Văn An (vái một vái về phía cửa Ngọ môn):
- Muôn tâu...tha tội "khi quân",
Vì bẩy quyền thần "qua mặt" Quân vương!
Làm điều hại nước hại dân,
Xưng xưng vẫn cái... "giả danh" của Người!
Điêu linh xã tắc, than ôi!
Tờ sớ "thất trảm" bùi ngùi bỏ qua...
Trương sinh (giận quá, săn tay áo):
- Thưa thầy con tức quá!
Máu nóng dồn nghẹt tim...
Xin thầy cho biết họ tên
Bẩy người hại nước, con liền ra tay!
Phép vua thua lệ làng này...
Đao phủ thủ (cũng khoa đao):
- Thưa thầy,
Thần đao cũng hậm hực,
Chưa làm tròn chức năng...
Chém đầu kẻ gian ác,
Để dân được quyền dân...
Chị Đao:
Thưa thầy "Thất Trảm Sớ",
Vang rền trong dân gian,
Ai cũng biết kẻ ác,
Chỉ đợi chờ người vạch mặt chỉ tên!
Toàn dân nhất định vùng lên
Dẹp tan cái đám cầm quyền bất minh.
Thái Giám (cười gằn):
- Hừ! Các người phát biểu linh tinh,
Bộ muốn nổi loạn...coi chừng bị giam...
Đầy lên núi đỏ, rừng xanh,
Mút mùa làm rẫy, tàn canh chẳng về.
(Nghe Thái Giám phát biểu đe doạ, mọi người cùng nhao nhao phản đối.)
Chị Đao:
- Bẩm Quan...Con nói thế không đúng sao?
Đao thủ:
- Bẩm...Quan bênh kẻ ác là ý gì đây?
Trương sinh:
- Đả đảo kẻ ác!
Thầy Chu Văn An (thấy đám đông toan tấn công quan Thái giám của Triều đình, bèn dơ
tay can ngăn):
- Khoan!
Xin tất cả hãy bình tâm,
Việc làm xốc nổi, uổng công...hại mình.
Bẩy người gian nịnh có tên
Trong "Thất Trảm Sớ", đã trình tâu vua.
Vua không phê chuẩn, bỏ qua...
Ta đâu có thể nói ra, làm càn.
Trương sinh:
- Quả là thế, xin thầy tha tội,
Cuộc đấu tranh này xốc nổi không nên...
Nhưng bẩy tội ác, xin thầy nêu tên,
Để mà răn chúng, sửa mình cũng hay!
Chị Đao:
- Thưa thầy đúng thế ạ.
Đao phủ thủ:
- Thưa thầy,
Không nêu danh tánh, độ lượng lắm thay!
Bẩy tội đáng chém, đao này chẳng tha.
Thái Giám:
- Hừ!
Thầy Chu Văn An:
- Tội đáng chém, cổ kim không đổi,
Chỉ khác nhau, thời buổi nhiễu nhương:
Thứ nhất đục khoét của công.
Thứ nhì dâm loạn, kỷ cương suy đồi.
Thứ ba lãng phí ăn chơi,
Để dân đói rét, cả đời khổ đau.
Thứ tư hối lộ làm giàu.
Thứ năm  dối trá, dựa vào ngai vua.
Thứ sáu buôn lậu, gian tà,
Chính sự hà khắc, quốc gia nghèo nàn.
Thứ bẩy quyền lực tập trung,
Quyền gian thì lắm, quyền dân chẳng còn!
Đó là bẩy tội ác ôn.
(Đao phủ thủ, chị Đao và Trương sinh cùng hô lớn
chém ...chém ...sau mỗi tội ác thầy Chu Văn An kể.
Thái Giám xấu hổ, lấy tay áo che mặt,vừa lấy tay đỡ cổ lủi mất)
Thầy Chu Văn An:
- Tiếc thay vận nước gian nan,
Một tay ta chửa xoay vần được đâu!
Thôi thì "treo áo từ quan",
Núi Chí Linh đó, ẩn danh đợi thời...!
(nói xong thầy Chu Văn An cởi bỏ áo mão triều đình treo trên bờ tường trước cổng thành,
rồi vẫy hai tay áo rộng thanh thản bước đi như mây như gió).
Đao phủ thủ (hốt hoảng, ném bỏ đao trước cổng thành toan chạy theo thầy):
- Thưa thầy...đợi con...đợi con...
Chị Đao (vội níu lấy áo chồng):
- Bố thằng cu ơi... đợi em...!
"Chàng đi cho thiếp theo cùng,
"Mấy sông (thiếp) cũng lội, mấy rừng (thiếp) cũng qua! (ca dao).
(hai vợ chồng Đao phủ thủ còn đang níu kéo nhau thì thầy Chu Văn An đã bỏ đi khuất
bóng).
Trương sinh (nhìn theo thầy, bỗng hăng hái phát biểu):
- Thầy đi theo gió theo mây,
Tuổi trẻ mai này, gánh vác giang sơn...

(
Tiếng ngâm hậu trường)
- Hỡi tuổi trẻ, thời nào cũng thế...
Đừng vì lợi danh, bán rẻ lương tâm.
Việc ngay, dám nói dám làm!
Hiểm nguy chẳng sợ, gian nan chẳng từ!
(tất cả diễn viên ra chào khán thính giả)

       
Màn hạ