Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
                               Ải Nam Quan
                                           (Kịch Thơ Một Màn, Một Cảnh)
              

Bối Cảnh Lịch Sử

“Ông Nguyễn Trãi là con ông Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh. Đời nhà Hồ, ông đã thi đỗ
tiến sĩ (1400). Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim Lăng, ông theo khóc, lên
đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. Ông Phi Khanh bảo rằng: “con phải trở về mà lo trả
thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?  Từ đó ông trở lại, ngày
đêm lo việc phục thù.
Khi Bình Định Vương về đánh ở Lỗi Giang, ông Nguyễn Trãi đã xin đến yết kiến và dâng
lên bài sách “Bình Ngô”. Bình Định Vương xem xong lấy làm hay, dùng ông làm Tham
mưu. Ông giúp Bình Định Vương bày mưu định kế để lo sự bình định” (Việt Nam Sử Lược -
Trần Trọng Kim)
“Ải Nam Quan”, nằm trên một ngọn đèo, hai bên là núi đất và núi đá, trấn giữ một địa thế
rất hiểm trở,  cách tỉnh Lạng Sơn 14 cây số về phía Tây Bắc, và cách Hà Nội khoảng 160
cây số. Nhà Minh xây một nhà trạm lớn đặt tên là “Ải Nam Quan” (tức là cửa ải biên giới
của nước Tàu ở phía Nam) từ thế kỷ 16. Người Việt cũng đã dựng ở phía Nam “Ải Nam
Quan” (biên giới phía Bắc đối với nước Việt Nam) hai dẫy nhà trạm nhỏ bằøng gỗ lợp
tranh, và dựng một tấm bia đá ghi rõ địa giới hai nước vào thế kỷ 18 (Ải Nam Quan - Trần
Gia Phụng).
Trước đây, người Việt gọi nơi này là ải Pha Lũy.
Từ khi có tên “Nam Quan”, người Việt quen gọi ải “Nam Quan”, một cửa ải biên thùy
quan trọng ở phía Bắc nước Việt: “từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mâu”. “Ải Nam Quan”
cũng được nhà Thanh ở thế kỷ 18 gọi là “Trấn Nam Quan”, và sau đó lại đổi tên “Đại
Nam Quan”. Dưới thời Pháp thuộc, “Ải Nam Quan” vẫn là biên giới  2 nước Hoa Việt, và
do quân đội Pháp chiếm giữ. Đến tháng 4 năm 1953, Mao Trạch Đông đổi tên  thành “Mục
Nam Quan', và Việt Nam Cộng Sản  gọi là “Hữu Nghị Quan”.
Qua Lịch sử, cửa Nam Quan và ải Chi Lăng là những vị trí chiến lược quan trọng, có khả
năng ngăn chặn các cuộc tấn công của quân đội xâm lăng từ phương Bắc tới:
- Thế kỷ thứ 10, nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân xâm lăng Đại Cồ Việt qua cửa ải
Lạng Sơn. Lê Hoàn lúc đó lên thay thế vua Đinh Tiên Hoàng vừa bị ám sát, đã đánh tan
quân Tống và chém đầu Hầu Nhân Bảo.
- Thế kỷ 11, nhà Lý sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản theo đường bộ vượt qua ải Lạng Sơn
(Nam Quan) và theo đường thủy, sang đánh phá các châu Khâm, châu Liêm (Quảng
Đông), và châu Ung (Quảng Tây). Sau đó quân Tống sang đánh báo thù, bị Lý Thường
Kiệt chặn đứng ở sông Như Nguyệt.  Lý Thường Kiệt đã đặt ra bốn câu thơ tựa như một
bản tuyên ngôn độc lập, khiến quân sĩ ta nghe thấy đều nức lòng,  đã đẩy lui quân Tống:
“Nam Quốc sơn hà Nam đế cư”
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”
“ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
- Đến thế kỷ 13, quân Nguyên Mông  3  lần xâm lăng Đại Việt, và 2 lần đem quân qua “Ải
Nam Quan” do Thoát Hoan chỉ huy hàng nửa triệu quân. Tuy nhiên tất cả các cuộc xâm
lăng này đều bị quân Nam do Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, chặn đứng
và đánh tan.  
- Thế kỷ 15, năm 1407,  quân Minh chiếm được Đại Việt, đã bắt giữ gia đình Hồ Quý Ly
cùng các quan nhà Hồ và những người có học để đưa về Kim Lăng. Trong số này có
Nguyễn Phi Khanh là cha của Nguyễn Trãi. Vì sót thương cha già, Nguyễn Trãi đã khóc lóc
đưa tiễn cha đến tận “Ải Nam Quan”. Nhưng ông Nguyễn Phi Khanh đã cương quyết
khuyên con trở về  lo trả thù cho cha, rửa hờn cho nước. Nguyễn Trãi vâng theo lời cha
dạy, về giúp Bình Định Vương Lê Lợi. Quân ta đã chém tướng Liễu Thăng ở ải Chi Lăng
(gần Nam Quan) và chiến thắng quân Minh, dành lại độc lập cho giang sơn Đại Việt.
- Thế kỷ 18, vào mùa Xuân kỷ dậu 1789, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đại phá quân
Thanh do Tôn sĩ Nghị cầm đầu, đánh đuổi tan tác 200 ngàn quân nghịch ra khỏi “Ải Nam
Quan”.
Kể từ đấy, cửa “Ải Nam Quan” được người Việt coi như phần biên cương quan trọng ở
phía Bắc. Gìn giữ “Ải Nam Quan” không có nghĩa là gìn giữ cái “kiến trúc ải quan” do
người Tàu xây, mà phải hiểu rằng người Việt muốn gìn giữ “lằn ranh biên giới phía Bắc”
có mốc xây từ thế kỷ 16:  Đó là “Ải Nam Quan”, được người Việt coi như một phần thịt da
của mình, và ai ai cũng có bổn phận gìn  giữ.  

Nhân Vật:

Nguyễn Phi Khanh: Trên 50 tuổi, trông già yếu, nhưng đôi mắt còn sáng quắc đầy cương
nghị, bị gông cùm, y phục tả tơi.
Nguyễn Trãi: Con trai Nguyễn Phi Khanh, khoảng 20 tuổi, vẻ nho nhã, thông minh, khoan
dung và nhiều tình cảm.
Tướng Minh: Dữ tợn, hung ác.
Một số dân làng ở vùng cao nguyên Lạng Sơn gần “Ải Nam Quan”.

Cảnh: Gần “Ải Nam Quan”, dân chúng đang sinh hoạt bình thường.
Y Phục: Nguyễn Phi Khanh mặc bộ y phục mầu trắng, mang xiềng xích. Nguyễn Trãi mặc
áo dài khăn đống đen, hoặc xanh. Tướng Tàu mặc giáp, có râu dữ tợn và mang đao kiếm.
Thời gian: Buổi sáng khoảng 8:00g.
Nhạc đệm : Bi hùng dễ gây xúc động.

Mở Màn:

Tiếng ngâm hậu trường:
“Nam Quan nước mắt tiễn đưa,
Trùng trùng biên ải, cõi bờ xót xa!
Về đi, nợ nước thù nhà…
Mau về cứu lấy sơn hà Việt Nam!”
Dân chúng đang sinh hoạt bình thường, bỗng viên tướng Tàu giải Nguyễn Phi Khanh đến,
khiến họ phải dạt ra. Một bà lão mang nước đến mời Nguyễn Phi Khanh, bị tướng Tàu
đánh đuổi.
Nguyễn Trãi (Thừa dịp viên tướng Tàu đuổi theo dân chúng, bèn ra gặp cha):
-  Cha…Cha!
Cha …cha ơi! Vì đâu nên nỗi…
Tấm thân già thay đổi thế này sao?
Gông cùm…xiết cổ đè đầu,
Tả tơi y phục, tiêu hao dáng người…
Nguyễn Phi Khanh:
-  Trãi con…
Hãy can trường lên, thôi đừng khóc nữa!
Nước mất rồi, giặc chiếm ắt nhà tan.
Cảnh chia ly cùng khắp cả nhân gian…
Đâu chỉ riêng ta mà con bi lụy!
Nguyễn Trãi:
-  Cha ôi!
Giặc gian ác hung tàn không kể xiết,
Chúng phen này mưu diệt giống Tiên Long.
Đồng hóa dân ta, đảo tục di phong,
Biến Nam Quốc Sơn Hà thành quận huyện...!
Nguyễn Phi Khanh:
-  Con yêu quíù, Trãi ơi, con đã hiểu,
Sao chưa về diệt giặc cứu giang san?
Thế hệ cha đã lỡ một thời gian,
Để nước mất , nhà tan, đầy thống hận!
Nguyễn Trãi:
-  Cha, cha ơi…!
Đường viễn xứ, bước lưu đầy biên trấn,
Con xin cha được kề cận theo hầu…
Rồi ngày mai trời rạng, bớt niềm đau,
Con sẽ quay về bày mưu giết giặc!
Nguyễn Phi Khanh:
-  Trãi con…
Khóc lóc làm gì thêm nhụt chí nam nhi!
Đất nước ta trang lịch sử hùng uy,
Quân Nguyên, Tống, đã nhiều phen phơi xương trắng!
Nguyễn Trãi:
-  Dạ thưa cha,
Đất nước Nam bị giặc phá tan hoang,
Con vẫn biết thất phu còn hữu trách.
Nhưng thưa cha…sinh ly là tử biệt,
Đến bao giờ…mới gặp lại, cha ôi!
Nguyễn Phi Khanh:
- Trãi con à!
Hãy lau khô giọt lệ khóc cha già!
Bởi nước mắt không làm kẻ thù run sợ,
Lời than van, giặc chẳng bớt hung tàn.
Con hãy về đi…về đi!
Lo trả thù cho cha, rửa hờn cho nước,
Mau trở về, diệt cường bạo cứu giang san.
Nguyễn Trãi:
-  Trả thù cho cha, rửa hờn cho nước?!
Con xin vâng, lời giáo huấn nghiêm đường.
Cha thân yêu, nơi đất khách Kim Lăng,
Con sẽ tìm cha một ngày quang phục!
Nguyễn Phi Khanh:
-  Cha một đi…không mong ngày trở lại,
Nắm xương tàn nơi hải ngoại xa xôi...
Con xem cha như khuất núi lâu rồi,
Hãy về đi…và hãy thề: Tổ Quốc là trên hết!
Nguyễn Trãi:
-  Con xin thề: Lời thề trên biên ải,
Lấy máu thù rửa sạch hận Nam Quan!
Nguyễn Phi Khanh (Cười lớn, bằng lòng):
-  Ha…ha…ha! Được...Được lắm!
Nhưng cuộc chiến nào chẳng tốn máu xương! (thở dài)
Trãi à! Con nên nhớ…
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo!
Nguyễn Trãi:
-  Đem đại Nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo!
Dạ, thưa cha…
Lời cha dạy con luôn luôn ghi nhớ,
Một lạy này xin tạ nghĩa ân sinh.
Vĩnh biệt cha!
Vĩnh biệt… cha…!
(Nguyễn Trãi dơ tay tiễn biệt cha già với ánh mắt tin tưởng một ngày mai chiến thắng quân
thù, rửa sạch hận Nam Quan. Tiếng hát “Đây Nam Quan” vang lên rộn rã...)


Đây Nam Quan
(Thơ Song Thuận Xuân Điềm phổ nhạc)

Đây Nam Quan, mồ chôn giặc phương Bắc,
Ải địa đầu, xương máu giữ quê hương.
Núi non cao làm thành quách biên cương,
Chia ranh giới rành rành hai đất nước.

Đây Nam Quan, người Nam còn nhớ mãi...
Nỗi đau nào, Nguyễn Trãi tiễn đưa cha!
Hãy về đi, nợ nước trước thù nhà,
Con hãy nhớ, về đi cứu sơn hà.

Còn nhớ chăng? Hỡi Bắc quân, Quỉ Đầu Sơn...(1)
Còn nhớ chăng? Tướng Liễu Thăng, quỉ không đầu.
Còn nhớ chăng? Đánh châu Khâm, đánh Ung Liêm...
Còn nhớ chăng? Lý viễn chinh phạt quân thù.

Đã bao lần quân xâm lăng vượt ải quan,
Bỗng kinh hồn, thu binh giáp để qui hàng!
Đã bao lần ta đi ngang “Ải Nam Quan”,
Ngẩng cao đầu, gươm bất khuất giữ giang san!

Bỗng rụng rời...Ôi Nam Quan còn nữa đâu!
Giống Lạc Hồng không im tiếng, lặng cúi đầu.
Nhớ câu thề nơi biên cương diệt xâm lăng,
Chẳng bao giờ ta để mất ải Nam Quan!
Nam Quan, Nam Quan...mãi mãi của Việt Nam!

                    
 Màn Hạ

(1) Ngạn ngữ: Quỉ Môn Quan! Quỉ Môn Quan!
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn (mười người ra đi, chỉ có một người trở về)
(Quỉ Môn Quan là vùng đất hiểm trở thuộc ải Chi Lăng).



Đã trình Diễn

1-
Sân Khấu: Carpenter Performing Arts Center - Long Beach, CA.
Ngày trình diễn: 20 tháng 10 năm 2002.
Chủ trương: Đại Nhạc Hội Tiếng Việt Mến Yêu Kỳ II.
Đạo diễn: Luân Vũ .
Diễn viên:
Diễn Viên của Đoàn Vũ Lạc Hồng với tiếng nói:
Nguyễn Văn Sinh: vai Nguyễn Phi Khanh.
Song Thuận: vai Nguyễn Trãi.
Đoàn Vũ Dân Tộc Lạc Hồng.

2-
Sân khấu: Nhà Hàng Seafood Paracel.
Ngày trình diễn: 21 tháng 3 năm 2003.
Chủ trương: Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Bưởi-Chu Văn An.
Đạo diễn: Vũ Mạnh Đôn.
Diễn viên:
Vũ Mạnh Đôn
: vai Nguyễn Trãi.
Nguyễn Văn Sinh: vai Nguyễn Phi Khanh.
Đoàn Vũ Lạc Hồng do Luân Vũ hướng dẫn.

3-
Sân Khấu: Trung Tâm Văn Hóa Polish Canadian Cultural Center.
Ngày trình diễn: 19 tháng 6 năm 2004.
Chủ trương: Liên hội cựu chiến sĩ VNCH.
Đạo diễn: Phương Linh.
Diễn viên:
Phương Linh: vai Nguyễn Trãi.
Loan Đặng: vai Nguyễn Phi Khanh.

4-
Sân khấu: Regent West Restaurant.
Ngày trình diễn: 9 tháng 11 năm 2003.
Chủ trương: Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt / Đại Nhạc Hội Hùng Sử Việt II.
Đạo diễn: Luân Vũ & Phương Linh.
Diễn viên:
Phương Linh: vai Nguyễn Trãi.
Phương Anh: vai Nguyễn Phi Khanh.
Đoàn Vũ Dân Tộc Lạc Hồng do Luân Vũ phụ trách.

5-
Sân khấu: Hội chợ Tết Quí Mùi (2003).
Ngày trình diễn: 23 tháng 1 năm 2003.
Chủ trương: Tổng Hội sinh viên miền Nam CA.
Đạo diễn: Nguyễn Minh & Anh Đào.
Diễn viên:
Nguyễn Minh: vai Nguyễn Phi Khanh.
Xuân Hương: vai Nguyễn Trãi (tiếng nói Song Thuận).
Long Đỗ& Steven Lưu: vai hai Tướng  Minh.
Hậu Nguyễn: vai Bà cụ.
Khang Nguyễn & Thủy Tiên Trần: vai hai em bé.
Phông cảnh: Họa sĩ Thái Hòa.

6-
Sân khấu: Hội trường Grand Rapids, Detroit.
Ngày trình diễn: 30 - 4- 2003.
Chủ trương: Hội Cựu Quân nhân Việt Nam.
Đạo diễn:Phương Linh.
Diễn viên:
Phương Linh: vai Nguyễn Trãi.
Ngô Sỹ Hân: vai Nguyễn Phi Khanh.

7-
Sân khấu: Seafood Palace 2.
Ngày trình diễn: 8 tháng 2 năm 2004.
Chủ trương: Hội cựu học sinh Bưởi - Chu Văn An.
Đạo Diễn: Nguyễn Minh & Anh Đào.
Diễn Viên:
Nguyễn Minh: vai Nguyễn Phi Khanh.
Xuân Hương: vai Nguyễn Trãi (tiếng nói Song Thuận).
Long Đỗ & Steven Lưu: vai hai tướng Minh.
Hậu Nguyễn: vai Bà cụ.
Khang Nguyễn & Thủy Tiên Trần: vai hai em bé.
Phông cảnh: Họa sĩ Thái Hòa.