Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
   Tỉnh Quảng Trị: Tín ngưỡng dân gian và
                                  địa danh lịch sử

Tỉnh Quảng Trị ở miền Trung, giữa Quảng Bình (về phía bắc) và Thừa Thiên (Huế về phía
Nam), cách Sài Gòn 1,121 km và cách Hà Nội 582 km, có sông Bến Hải - cầu Hiền Lương chia
đôi Nam Bắc theo Hiệp Đinh Genève  từ 1954-1975.

Quảng Trị có cửa khẩu Lao Bảo trên sông Sêpôn, cách thị xã Đông Hà 80 km và cách Thái
Lan 950 km, là nơi giao thương quan trọng với Lào (giáp ranh tỉnh Savanakhet) và Thái Lan
(chợ Lao Bảo cách cửa khẩu 2 km rất tấp nập).

Về lịch sử, xưa là đất Chiêm Thành. Năm 1069 vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm, bắt được
vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để chuộc tội.,
nay là địa hạt tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Năm 1306, Trần Anh Tông  gả em gái là công
chúa Huyền Trân (con vua Trần Nhân Tông) cho vua Chiêm Chế Mân, được dẫn cưới bằng 2
châu Ô và châu Rí (vua Trần đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu, sau gọi chung là Thuận
Hóa, tức Huế thời Minh Mạng). Đời chúa Nguyễn là Chính Dinh (Ái Tử). Chúa Nguyễn Hoàng
đánh thắng tướng nhà Mạc là Lập Bạo ở đây nhờ dùng mỹ nhân kế (dùng người đẹp Ngô
Ngọc Lâm người làng Thế Lai, huyện Hương Trà mang vàng lụa cầu hòa). Lập Bao bị phục
kích và bị bắn chết.
























                                                    Tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị có diện tích 4,746 km2, dân số gần 600 ngàn người, tỉnh lỵ là thị xã Đông Hà, thị xã
Quảng Trị và 7 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hương Hỏa và Đa
Krông.

Lễ Hội và tín ngưỡng dân gian: Tỉnh Quảng Trị ngoài người Việt (Kinh) còn dân tộc thiểu
số như Bru, Văn Kiểu, Paco, Tà Ôi, Nùng, Xtiêng, , Xu Đăng... với nền Văn hóa đa dạng. Lễ
Hội tại đây cũng đơn giản và ít đặc sắc. Về tôn giáo, ngoài đạo Phật (với vài ngôi chùa như
chùa Thạch Hải, Đông Hà, Tinh Nghiệp), còn Đạo Thiên Chúa rất phát triển với ngôi Vương
Cung Thánh Đường La Vang nổi tiếng.

Hội Thượng Phước: Tổ chức từ 13 đến 15 tháng 3 tại Triệu Phong, ghi nhớ công lao lập
làng Thượng Phước của Quan Công Hoàng Dũng, có săn muông thú để tế thần.
Hội cướp cù: Dân làng tổ chức cướp cù như một trò chơi thể thao, làng nào có nhiều người
tham gia thì thắng.

Lễ Hội La Vang: Hàng năm vào các ngày 15 tháng 8, có tổ chức “Kiệu” vào các năm lẻ, “Song
Kiệu” vào năm chẵn. Tổ chức 3 năm một lần gọi là “Kiệu Đại Hội”, và “Kiệu”100 năm lớn hơn
“kiệu” 50 năm ...Từ 13 đến 15 tháng 8 năm 1998, đã tổ chức cuộc hành hương kỷ niệm 200
năm Đức Mẹ Hiện Ra, rất lớn với hàng trăm ngàn người khắp nơi đến dự.. Dưới đây là vài nét
về lịch sử nhà thờ Đức Mẹ La Vang :

Năm 1798,  phong trào Văn Thân chống Pháp và triều đình vua Cảnh Thịnh (1793-1801 - Tây
Sơn) cấm Đạo vì nghi ngờ người Công Giáo theo Pháp giúp chúa Nguyễn Ánh. Một số giáo
dân trốn vào rừng La Vang (rừng “Lá Vàng” hoặc “la vang” vì  có nhiều thú dữ, cách xa làng
mạc về phía tây đồn Dinh Cát, sau thuộc Quang Trị, cách Huế chừng 58 km), đã thấy Đức Mẹ
Maria hiện ra cứu khổ cứu nạn.

Năm 1885 (thời nhà Nguyễn), lập nhiều nhà nguyện. Từ 1886-1928 thuộc giáo xứ Cổ Vưu
(Quảng Trị). 1958-1959 Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc tổ chức tại La Vang.  Ngày 22 tháng 2
năm 1961 Đức Giáo Hoàng Gioan 23 nâng nhà thờ La Vang thành “Tiểu Vương Cung Thánh
Đường”. Từ đó xây dựng thêm, có Quãng Trường Mân Côi với những bức tượng diễn lại 15
phép mầu nhiêm Kinh Mân Côi, 2 hồ nhỏ trên 6 mẫu đất, bàn thờ bằng đá quí Non Nước,
tượng Đức Mẹ, trung tâm Tĩnh Tâm và nhà trọ cho khách hành hương. Năm 1985, La Vang là
Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc.

Địa danh  lịch sử:

Chùa Sắc Tứ: Tên chữ là Tịnh Quang Tự, ở xã Ái Tử, huyện Triệu Phong xây từ 1739 (đời
vua Lê Y Tông đặt tên là Tịnh Nghiệp. Đời vua Gia Long  đặt tên là Tịnh Quang. Có pho
tượng cổ Phật A Di Đà.

Vương Cung Thánh Đường La Vang. Nhà thờ ở cách Cổ thành Quảng Trị khoảng 6 km về
phía tây, là nơi kỷ niệm Đức Mẹ Maria hiện ra cứu rỗi linh hồn những giáo dân lâm nạn thời kỳ
cấm đạo 1793-1881. Nhà thờ Đức Mẹ La Vang được xây vào những năm đầu triều vua Minh
Mạng. Năm 1889-1900 được xây lại khang trang  hơn và tới 1924 thì xây dựng lại thật lớn.

Khe Sanh: Thuộc huyện Hương Hỏa, Quảng Trị, cách Đông Hà 63 km, là một thung lũng, mỗi
chiều ngang dọc chưa đến 10 km., chung quanh là rừng núi trùng điệp, có khe nước chảy qua
tên là Khe Sanh. Từ 1966-1967, là căn cứ quan trọng của quân đội Mỹ và Quân Lực VNCH
nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào miền Nam nhất là qua ngả Lào
(Trường Sơn). Quanh Khe Sanh có các căn cứ như Tà Cơn (có sân bay dã chiến), Làng Vây
và Hương Hỏa (nhiều dân tộc Bru sinh sống với đồn điền cà phê).

Chiến sự tại Khe Sanh trong cuộc chiến tranh Việt Nam rất là tàn khốc. Về phương diện “chiến
thuật”, quân đội Mỹ và quân lực VNCH coi như đã chiến thắng ở thời điểm 1967-1968, và
quân đội Bắc Việt đã phải trả giá rất đắt về sự thiệt hại nhân mạng. Khe Sanh không biến
thành “Điện Biên Phủ”, mà trở thành mục tiêu oanh kích của không quân và hải quân Mỹ sau
khi Làng Vây thất thủ vào ngày 7 tháng 2 năm 1968 và quân đội Mỹ và quân lực VNCH rút lui
khỏi Khe Sanh ngày 5 tháng 7 năm 1968.

Năm 1971, quân lực VNCH mở chiến dịch Lam Sơn 719 đánh qua Lào và tái chiếm Khe Sanh,
nhưng đến năm 1972 đã rút khỏi Khe Sanh lần nữa.

Cổ thành Quảng Trị: Theo tài liệu trong "Từ Điển Địa Danh Văn Hóa và Thắng Cảnh Việt
Nam: “Thành cổ ở trung tâm thị xã Quảng Trị, lúc đầu (năm 1809) được đắp bằng đất, đến
năm 1824, Minh Mệnh mới cho xây bằng gạch. Thành được kiến trúc theo kiểu vô băng, 4
mặt, chu vi 481 trượng 6 thước, mở 4 cửa thành, hào rộng 8 trượng 6 thước , 4 góc là 4 pháo
đài. Bên trong có hành cung được bao quanh bằng hệ thống tường dày, chu vi 400m. Hành
cung là ngôi nhà 3 gian, 2 chái làm nơi vua đến lễ bái, thăng cấp chức cho các quan cấp tỉnh
ở Quảng Trị hay tế lễ định kỳ hàng năm. Trong thành còn có cột cờ, dinh tuần vũ , dinh án
sát, dinh lãnh binh, ti phiên, kho thóc, thương chính, nhà kiểm học...”

Tài liệu trích từ “Đại Nam Nhất Thống Chí” (tập 2) Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, cho biết:
“Thành Đạo Quảng Trị - Chu vi 481 trượng 6 thước, cao 1 trượng linh, bề dày 3 trượng (?),
mở 4 cửa. hào rộng 4 trượng 6 thước, sâu 8 thước, đầu đời Gia Long, thành ở địa phận
phường Tiền Kiên huyện Đăng Xương, năm thứ 8 dời đắp ở địa phận xã Thạch Hãn, huyện
Hải Lăng; năm Minh Mệnh thứ 4, đắp bằng đất, năm thứ 8, xây bằng gạch; năm Tự Đức thứ 6
bỏ tỉnh Quảng Trị, để làm thành đạo. “

Cổ thành Quảng Trị cũng là nơi giao tranh rất ác liệt trong cuộc chiến tranh Việt Nam, khiến
cho sự tổn thất về nhân mạng rất nặng cho cả hai bên tham chiến.

Tài liệu trích dẫn từ "The Vietnam Experience", do nhà xuất bản Boston Publishing Company,
cho biết ngày 26 tháng 8 năm 1972, quân lực VNCH đã tấn công quân đội Bắc Việt sau khi
được Pháo Đài Bay B52 trải thảm bom, khiến địch quân phải rút lui khỏi Quảng Trị và chiếm
lấy cổ thành. Tại đây, quân đội Bắc Việt tử thủ. Ban đầu, quân lực VNCH dùng vũ lực đánh
chiếm lại, nhưng không muốn gây tổn hại cho cổ thành theo lệnh Tổng thống Thiệu, nên
không nhờ đến không lực Mỹ.
Ngày 25 tháng 7 năm 1972 Lực Lượng Dù đã kéo cờ Quốc
Gia trên cổ thành Quảng Trị (1)
và tới 16 tháng 9 thì quân đội Bắc Việt rút lui sau khi lưc
lượng không quân Mỹ can thiệp. Số bom đạn trút xuống cổ thành rất là khủng khiếp.

Tài liệu của tác giả Nguyễn Đức Phương nhan đề “Những trận đánh lịch sử trong chiến tranh
Việt Nam” do Đại Nam xuất bản năm 93, cho biết “Ngày 28 – 6, cuộc tổng phản công của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chính thức bắt đầu. Hai Sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến
sẽ tấn công tuyến phía Bắc trong khi Sư đoàn 1 Bộ Binh sẽ đánh về phía Tây. Mặt trận B5 đã
tung vào chiến trường tất cả 6 Sư đoàn gồm 304, 308, 324B, 325, 320B và 312 mới đến từ
đất Lào. 3 Tiểu đoàn 7,9 và 11 Dù theo thế gọng kềm đã vượt sông Mỹ Chánh tiến vào Quảng
Trị. Chiến cuộc kéo dài dai dẳng cho đến
ngày 25 tháng 7 lực lượng Dù mới cắm được cờ
Quốc gia trên mặt Cổ Thành Quảng Trị.(1)
“Hai ngày sau, Sư đoàn Dù bàn giao vùng trách nhiệm lại cho Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
Cổ Thành Quảng Trị với bề dài mỗi cạnh là 590 thước, cao và dày 5 thước đã được Thủy
Quân Lục Chiến chia làm hai vùng trách nhiệm. Nửa phía Nam thuộc Lữ đoàn 258 với các
Tiểu Đoàn 1, 2, 5 và 6. Nửa mặt Bắc là vùng trách nhiệm của Lữ đoàn 147 gồm 3 Tiểu đoàn
3, 7, và 8 Thủy quân Lục Chiến (8). Hai mũi tấn công chính sẽ do hai Tiểu đoàn 6 ở phía Nam
và 3 ở phía Bắc đảm nhận.

“Kế hoạch dứt điểm Cổ Thành bắt đầu từ 6 giờ sáng ngày 9-8-1972 tại mặt trận phía Nam.
Cuộc chiến đẫm máu đã kéo dài đến ngày 16-9 mới tạm chấm dứt. Tàn quân của Trung đoàn
48 Cộng Sản Bắc Việt đã rút chạy sang bờ Bắc của sông Thạch Hãn.”

Sông Bến Hải - Cầu Hiền Lương: Sông Bến Hải bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn (thượng
nguồn còn tên gọi là sông Rào Thanh) chảy ra biển Đông ở Cửa Tùng thuộc địa phận tỉnh
Quảng Trị. Lòng sông chỗ rộng nhất 200m. Cầu Hiền Lương bắc qua sông chỗ rộng 170m.
Theo Hiệp Genève năm 1954 về Việt Nam, Sông Bến Hải và vĩ tuyén 17 được chọn là giới
tuyến quân sự tạm thời chia đôi Nam Bắc, và cầu Hiền Lương có 7 nhịp dài 178m (do công
binh Pháp xây 1950, xưa qua lại bằng thuyền), chia ra 2 chính phủ Nam, Bắc mỗi bên 80m cầu.
Chiến tranh Nam Bắc Việt Nam kể từ Hiệp Định Genève,  kéo dài 20 năm (1954-1975). Cũng
nên nhắc lại thời Trịnh Nguyễn phân tranh, đã lấy sông Gianh tức Linh Giang  thuộc địa phận
tỉnh Quảng Bình làm giới tuyến, 2 bên Nam Bắc, đánh nhau 7 lần trong vòng 45 năm.

Xa lộ Trường Sơn: Rặng núi Trường Sơn nằm từ thung lũng sông Cả đến thung lũng sông
Hồng, chạy dọc theo biên giới Việt Lào Thời Pháp thuộc, Pháp đã xây quốc lộ 14 (1945) từ
Bình Dương đến Dak Pek (bắc Kontum). Từ Bình Dương tới Ban Mê thuột đường được tráng
nhựa.

Đường mòn Trường Sơn trong thời kỳ chiền tranh VN, đã tạo ra những huyền thoại khi quân
đội Bắc Việt xử dụng đường mòn này vào mục tiêu quân sự, xâm nhập và tiếp vận cho chiến
trường miền Nam. Tuy nhiên việc xây dưng một xa lộ dọc Trường Sơn nối liền Nam Bắc (khác
với quốc lộ 1 hiện tại) đã vấp phải những trở ngại lớn như sau:

-        Mùa mưa ở Trường Sơn gây lũ lụt và cuốn trôi nhiều đoạn đường mới xây xong. Càng
phá rừng mở đường, càng gây ra lũ lụt trong tương lai.
-        Tài chính cũng là vấn đề nan giải. Quốc tế không muốn đầu tư vào con đường này vì
chưa mang ích lợi về kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở VN.
-        Nạn ăn cắp vật liệu xây dựng cũng là vấn đề nan giải.
-        Chuyên viên đa số do đặc ân mà có bằng cấp, không phải do thực tài, nên không biết gì
về tình huống phức tạp của nạn đất chuồi ở sườn núi.
-        Công nhân xây dựng thiếu điều kiện sinh sống, vì đa số bị ép buộc công tác hoặc do
tuyên truyền mà “tình nguyện”. Khi biết rõ sự thực, họ sẽ nản.

Cầu Đa Krông: tại khu vực Đa Krông, một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ ở phía tây Quảng
Trị. Cầu Đa Krông bắc qua sông Đa Krông gần cửa khẩu Lao Bảo.
Cửa Khẩu Lao Bảo: Đây là cửa khẩu quốc tế quan trọng, giao thương giữa Việt Nam, Lào và
cả Thái Lan nữa.

Cửa Tùng: Là cửa sông Bến Hải đổ ra biển, có bãi tắm nhỏ nhưng đẹp, nước trong xanh,
bằng phẳng và cát mịn, có thể trở thành nơi nghỉ mát tốt.

Rú Lịnh: Là khu rừng nhiệt đới ở phía tây nam Quảng Trị, có nhiều loại gỗ quí và nhiều loại
thú và chim quí.

Suối nước nóng Tân Tâm và tháp Trung Đan: Suối nước nóng Tân Tâm tại thượng nguồn
sông Hiếu, vùng núi đá vôi, có nhiều hang động.
Tháp cổ Trung Đan thuộc huyện Triệu Phong, cao 30 m, cũng là một danh thắng của tỉnh
Quảng Trị.

(Song Thuận biên soạn)

Sách tham khảo:
-        Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
-        Đại Nam Nhất Thống Chí - Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
-        Non Nước Việt Nam – Sách Hướng Dẫn Du Lịch
-        Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn.
-        Sổ Tay Địa Danh Việt Nam – Đinh Xuân Vịnh
-        Từ Điển Địa Danh Văn Hóa và Thắng cảnh Việt Nam
-        Địa Lý Việt Nam - Nguyễn Khắc Ngữ - Phạm Đình Tiếu
-        The Vietnam Experience" - nhà xuất bản Boston Publishing Company.
-        “Những trận đánh lịch sử trong chiến tranh Việt Nam” - Đại Nam xuất bản năm 93 -
Nguyễn Đức Phương.
-        Nguồn: vietquoc.com -  THE TRUONG SON HIGHWAY - NEWS ANALYSIS, OCTOBER
12, 2002 trên Internet.
-        Tài liệu trên Internet như Wikipedia...

Ghi chú:

(1)  Theo tài liệu “Những trận đánh lịch sử trong chiến tranh Việt Nam 1968-1975” của Nguyễn
Đức Phương,  trang 293 do Đại Nam 93 xuất bản.
Một khán thính giả của Đài truyền hình VHN – TV (dấu tên), sau khi theo dõi buổi nói chuyện
về “Những Nẻo Đường Việt Nam” gọi điện thoại cho biết chính
Chuẩn Úy Minh là Trung đội
Trưởng Trung Đội 2, thuộc Đại Đội 2, Tiểu Đoàn 6
Thủy Quân Lục Chiến là người cắm cờ
Quốc Gia trên cổ thành Quảng Trị vào khoảng 10 giờ sáng ngày 15 tháng 9. Được biết trước
đó, chuẩn úy Minh đã bị thương (bị miểng ghim vào mặt), nhưng từ chối đi bệnh viện và tiếp
tục leo lên cổ thành Quảng Trị để cắm cờ Quốc Gia.
(8) Ghi chú của tác giả Nguyễn Đức Phương:
Ph.V.H., Thiên Hùng Ca Dựng Một Ngọn Cờ, Đa
Hiệu, sổ 13, Trang 62-73, California, Tháng 2-1988