Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Tỉnh Lâm Đồng - Đà Lạt - Văn hóa và Lịch sử


Ai lên xứ Hoa Đào đừng quên đem về một cành hoa”

Xứ Hoa Đào chính là thành phố Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng - Tây Nguyên, một vùng đất
cao thuộc Langbiang (Lâm Viên). Tỉnh Lâm Đồng có diện tích gần 10 ngàn km2 với dân số
non 1 triệu người đa số là người Việt (kinh), người Cờ Ho, Mạ, Lạt, Srê, Churu..., 70% là
rừng núi, bắc giáp Đắc Lắc (Đắk Lắk), đông giáp Khánh Hòa và Ninh Thuận, nam giáp Bình
Thuận và tây giáp Bình Phước, Đồng Nai.

Ngoài tỉnh lỵ là thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng có một thị xã và
10 huyện: Thị xã Bảo Lộc,
huyện
Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Bảo Lâm, Di Linh, Đăm Rông, Đạ
Huoai, Đạ Tẻ, Cát Tiên.



























                                       
                                       Tỉnh Lâm Đồng


Phía Bắc tỉnh Lâm Đồng là 2 dãy núi song song từ đông sang tây, ngọn cao nhất là Chu
Yang Sin (2,405 m). Giữa 2 dãy núi là nguồn sông Đa Đung chảy vào Đồng Nai. Phía nam
của 2 dãy núi là cao nguyên Lang Biang  cao 2,163 m, trong đó Đà Lạt cao gần 1,500 m.
Phía đông nam tỉnh có cao nguyên nhỏ Di Linh cao 1010 m, khá bằng phẳng và đông dân
cư, là đầu nguồn của sông La Ngà chảy vào Đồng Nai.

Đà Lạt cách Sài Gòn 300 km (đi xe hơi mất khoảng 7 tiếng đồng hồ) theo quốc lộ 20,  Biên
Hòa - Định Quán, qua đèo Blao đến Bảo Lộc (Blao), là nơi trước kia có trường Nông Lâm
Súc cấp Trung Đẳng và cấp Cao Đẳng, kiến trúc rất đẹp và là cơ sở giáo dục Nông Nghiệp
thật tân tiến. Nếu tiếp tục đi, sẽ qua địa phận thác Gougah, thác Pongua, thác Liên Khương,
qua Đức Trọng tới thác Prenn (qua đèo Prenn dài 10 km) và những đồi thông xanh ngút
ngàn là tới Đà Lạt. Xe lửa trước đây lên Đà Lạt phải dùng loại bánh xe răng cưa và hệ thống
đường rầy có móc sắt đặc biệt để leo dốc (ga xe lửa gần hồ Xuân Hương, nghe nói ngày nay
không còn hoạt động?). Ngoài xe bus, xe hơi, còn đường hàng không ở Phi trường Liên
Khương (cách Đà Lạt 30 km về phía nam, thường xuyên mỗi ngày 1 chuyến đi Hà Nội hoặc
Sài Gòn và 1 tuần 2 chuyến đi Đà Nẵng), Phi trường nhỏ Cam Ly cạnh trường Võ Bị Quốc
Gia xưa dùng cho quân đội..














 
Ga xe lửa ngày nay (h. trích từ Việt Báo Forum/Diễn Đàn dành riêng/ Nhóm Trưng  Vương
& Thân hữu/Uyển Nhi Trang - Hồng Vũ Lan Nhi)

Nếu đi theo đường 11 từ Phan Rang (Nha Trang) ngược sông Dinh lên (đi xe hơi mất khoảng
5 tiếng đồng hồ), sẽ qua những khu di tích lịch sử của nước Chiêm Thành ngày xưa với tháp
Chàm và đồng cỏ khô, rồi qua đèo Ngoạn Mục ngắm cảnh đẹp thiên nhiên là tới Đà Lạt với
đồi thông và khí lạnh “ròn tan như pha lê”...

Khí hậu Đà Lạt  mát quanh năm, được mệnh danh là “thành phố của mùa xuân”, nhiệt độ
cao nhất không quá 24 độ C và thấp nhất khoảng 15 độ C, mùa khô từ tháng 12 đến tháng
3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11. Đà Lạt là một thành phố Du lịch, Nghỉ mát và săn bắn
(xưa), dân số không đông lắm (khoảng 120 ngàn – năm 1999), đặc sản trà, cà phê, thuốc lá,
đủ loại hoa, nổi tiếng là hoa Lan, hoa bất tử, mimosa, cassia vàng...trái cây (hồng, mận, đào,
mơ...nổi tiếng với
mận Trại Hầm, nơi đây còn sản xuất các loại rượu dâu, rượu mận...rất
được bà con Sài Gòn ưa chuộng), rau cải (cải bắp, trái su...nổi tiếng với
ngành trồng rau của
ông Đỗ Thái Hiến
) cung cấp cho nhiều tỉnh khắp nước.

Các sắc dân thiểu số tại Đà Lạt có những
lễ hội như: Lễ Hội ăn trâu của ngưòi Cơ Ho (ăn
mừng sau vụ thu hoạch),
Lễ cúng thần Suối của người Mạ, Lễ cúng thần Bơ Mung của
người Chu Ru
(cúng thần Đập nước), Tết Mạ, Cơ Ho - Lễ cúng cơm mới của người Mạ và
Cơ Ho
tại Blao (trùng với Tết ta).

Lịch sử thành lập thành phố Đà Lạt và di tích đáng ghi nhớ:

Năm 1890, một số nhà thám hiểm (trong đó có nhà bác học Pháp là Alexander Yersin và
Louis Pasteur?) đề nghị với Toàn Quyền Paul Doumer thành lập một nơi nghỉ mát trên cao
nguyên và được chấp thuận.

Đến năm 1907, Khách sạn đầu tiên được xây cất (Hotel du Lac – Khách sạn Hồ), sau đó có
khách sạn Novotel Dalat (tức khách sạn Đà Lạt) và khách sạn Sofitel Dalat Palace (Dalat
Palace xây năm 1922). Những căn biệt thự bằng gỗ thông, theo kiểu, Thụy Sĩ, Pháp, được
xây cất dọc theo 2 bên đại lộ trồng thông, công viên, trường học (hệ thống trường Dòng,
Couvent des Oiseaux... và Tu viện công giáo, Nhà Thờ Đà Lạt (xây năm 1931), chùa Phật
Giáo...và các Dinh thự xây trên đồi rất nguy nga như Dinh Toàn Quyền (Pháp), Dinh vua Bảo
Đại xây năm 1933 (Biệt Điện Quốc Trưởng) ... Đặc biệt không có cơ xưởng kỹ nghệ. Chợ Đà
Lạt được xây lại vào khoảng năm 1960 là một kiến trúc tân kỳ. Ngày nay có thêm “Khách Sạn
Hằng Nga” (Hang Nga’s Guesthouse) được dân chúng gọi là  “Lâu đài Ma” (Crazy
Guesthouse) vì kiến trúc rất kỳ dị, sân Golf 18 lỗ  tân tiến ở đồi Cù.











                              
                                  Couvent des Oiseaux  (h. Forum Viet Bao)             

Tên gọi “Đà Lạt” có nhiều giả thuyết: Theo người Pháp, Đà Lạt là nguyên ngữ từ tiếng
Latin “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem” có nghĩa là “Ban phát niềm vui cho người này, sự
tươi mát cho người kia” (Giving Pleasure to Some, Freshness to Others"). Thuyết khác cho
rằng xưa sắc tộc “Lat” sinh sống nhiều tại đây (dưới chân núi Langbiang nay có Bản dân tộc
Lát), nên có tên là “Dòng của Lat” (Stream of the Lat), hay Đa Lat (nhiều người sắc tộc Lat?).

Thế chiến thứ 2 (1939-1945),
Đà Lạt là Thủ Đô của “Liên Bang Đông Dương” (Việt Mên
Lào thuộc Pháp).
Dinh vua Bảo Đại (nơi nghỉ mát) với Ngự Lâm Quân cũng được thiết lập tại
đây. Giữa năm 1950 Hội Hướng Đạo VN được thành lập và huấn luyện tại Đà Lạt, t
rường dạy
lái máy bay ở phi trường Cam Ly và những trường nổi tiếng về Quân sự như trường Chiến
Tranh Chính Trị, trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, về giáo dục như trường đại học Chính Trị
Kinh Doanh Đà  Lạt
(Cao Học Chính Trị Kinh Doanh mở tại Sài Gòn, khóa tốt nghiệp đầu tiên
năm 1969). Biến cố Tết Mậu thân 1968, Đà Lạt bị quân du kích tấn công, chiến sự kéo dài
hơn 10 ngày, sau đó lực lượng quân chính phủ đã đẩy lui quân phiến loạn và kiểm soát
thành phố từ  9 tháng 2 –1968.

Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt được coi là một di tích lịch sử nổi tiếng, với những kiến trúc
đồ sộ và chương trình huấn luyện quân sự không thua kém gì trường võ bị West Point của
Mỹ. Trường Võ Bị Quốc Gia trước kia được thành lập tại Huế (1948), dời về Đà Lạt năm
1950 (thuộc Pháp chỉ huy) và tới năm 1955 do Chính Phủ Việt Nam điều khiển (khóa học 1
năm).

Từ 1956, khóa huấn luyện là 2 năm và tới năm 1959 (dưới thời Tổng thống Diệm) khóa học
là 4 năm, sau đó lại đổi thành 2 năm vì nhu cầu chiến tranh và tới năm 1966 trở lại học trình
4 năm, tương đương trình độ tốt nghiệp đại học với cấp bằng BS. Điều kiện thi tuyển vào
trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt: công dân VN, 18-22 tuổi, độc thân, tốt nghiệp Trung Học (có
bằng tú tài 2), sức khỏe tốt. Thi tuyển chỉ chọn 10% thí sinh xuất sắc nhất. Trong trường có
10 tòa nhà lớn, 4 tòa nhà dùng làm nội trú cho Sinh Viên Sĩ Quan (khóa 1969 có 92 khóa
sinh), còn lại làm Giảng Đường và nơi Sinh Hoạt. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt là một trong
những trường võ bị nổi tiếng, đào tạo những sĩ quan ưu tú cho QLVNCH của Miền Nam VN.



















                    
Cổng trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (trước 1975)

Chùa Đà Lạt: Ngoài những tu viện công giáo, Nhà Thờ...Đà Lạt có nhiều chùa nổi tiếng như:

Chùa Linh Sơn (trên quả đồi trong thành phố, xây năm 1938, có tượng Phật Thích Ca bằng
đồng nặng 1250 kg, đúc 1952).

Chùa Linh Phong (Chùa sư nữ, khuôn viên rộng đẹp, xây 1944), Chùa Linh Quang (xây
1931 là chùa xây đầu tiên, ở ngay trung tâm Đà Lạt).

Chùa Linh Phước (Chùa Ve Chai): Cách Đà Lạt 8 km, khởi công xây cất từ 1949, đến 1950
hoàn tất. Năm 1990 đuợc trùng tu rộng lớn, chánh điện dài 33 m, rộng 12 m, có 2 hàng cột
rồng khảm sành, trên trần nhà có những bức chạm nổi (phù điêu) về lịch sử Phật Thích Ca.
Sân chùa (Hoa Long Viên) có rồng đá dài 49m, vảy khảm bằng vỏ chai bia. Trước Hoa Long
Viên là tòa Linh Tháp 7 tầng, cao 36 m, với quả chuông Đại Hồng Chung cao 1.3 m, nặng 8
tấn rưỡi.

















                                         
Chùa Linh Phước

Chùa Thiên Vương Cổ Sát (Chùa Tàu trên đồi thông, cách Đà Lạt 5 km, xây 1958, có
nhiều tượng Phật cao 4m, nặng 1.5 tấn).

Thiền Viện Trúc Lâm (tọa lạc bên hồ Tuyền Lâm, trung tâm thành phố, xây 1993 đất rộng
25 ha).












  
Trúc Lâm Thiền Viện                                                  Dinh Bảo Đại



Nhà Thờ Đà Lạt: Xây từ năm 1931, đến 1942 mới xong, gần khách sạn Đà Lạt. Nhà thờ cao
47 m,  theo kiến trúc châu Âu thời Trung Cổ với cửa kinh nhiều mầu sắc.






















                                        
Nhà Thờ Đà Lạt

Hồ Đà Lạt:
Hồ Xuân Hương
 là hồ lớn, rộng 5 km2 ở trung tâm thành phố, hình cong vành trăng lưỡi
liềm, đẹp nhất Đà Lạt, mặt hồ phẳng lặng soi bóng thông xanh và tùng, bách... bơi thuyền
hoặc xe đạp nước rất thú vị.














                                          
 Hồ Xuân Hương

Hồ Đa Thiện – Thung Lũng Tình Yêu: Thung lũng cách trung tâm thành phố 5km về phía
bắc, với sườn đồi thông xanh thoai thoải. Thời vua Bảo Đại tên là thung lũng Hoà Bình, dân
chúng gọi là thung lũng Tình Yêu. Năm 1972 xây đập lớn ngang thung lũng, nước tạo thành
hồ rộng tên là hồ Đa Thiện. Đây là một thắng cảnh nổi tiếng.

                  
 









                                                                       
Đồi thông Hai Mộ
Thung Lũng Tình Yêu

Hồ Than Thở: Cách thành phố 6 km về phía đông, hồ nằm trên đồi thông cao tĩnh mịch, trên
đồi thông còn sự tích “đồi thông hai mộ”...
















                                              
Hồ than thở

Hồ Tuyền Lâm: Cách Đà Lạt 5 km về hướng nam, nơi thung lũng nhỏ, hồ Tuyền Lâm rộng
mênh mông gần thác Datania. (xưa có Tiên đến tắm bên dòng suối bằng phẳng, nên còn gọi
là suối Tiên).












                                             
 Hồ Tuyền Lâm

Hồ Dankia và Suối Vàng: cách Đà Lạt trên 20 km về phía bắc, hồ lớn dưới chân núi Lang
Biang, có triển vọng thành một thắng cảnh du lịch quan trọng của Đà Lạt trong tương lai.

Hồ Đa Nhim – Đèo Ngoạn Mục: Cách Đà Lạt 40 km, trên đường Phan Rang –Đà Lạt. Hồ
được tạo thành do việc xây cất Đập Đa Nhim của nhà máy thủy điện Đa Nhim. Phong cảnh
thấy từ Đèo Ngoạn Mục thật tuyệt vời.

Thác Đà Lạt:
Thác Prenn
dưới chân đèo Prenn, cửa ngõ vào Đà Lạt, chảy từ trên cao 10 m xuống một
thung lũng nhỏ, xung quanh là hoa rừng và đồi thông. Một chiếc cầu nhỏ bắc ngang qua hồ
nước càng tạo thêm cảnh thơ mộng.  













                                               
 Thác Preen

Thác Cam Ly: Dòng suối từ phía bắc vào hồ Xuân Hương và nước từ hồ ra phía nam tạo
thành thác Cam Ly, rất đẹp.













                                            
 Thác Cam Ly

Thác Guga: Cách Đà Lạt 40 km, cao 17 m chia thành 2 nhánh chảy xuống, nước bắn tung
tóe, tao thành cảnh trí hùng vĩ.

Thác Pông-gua: cách Đà Lạt 50 km là ngọn thác hùng vĩ nhất của tỉnh Lâm Đồng, đổ từ trên
cao 40 m xuống hồ lớn, tạo ra tiếng réo ầm ầm, là một trong những thác đẹp nhất Đông
Dương.

Thác Dambri: Thuộc thị xã Bảo Lộc, cách 17 km về hướng tây, cao 90 m (cao nhất vùng)
trông thật hùng vĩ. Thị Xã Bảo Lộc thơ mộng với núi Đại Bình, Trường Blao Nông Lâm Súc,
đồi trà xanh, đồn điền cà phê và dâu tầm...

“Nghe man mác Đại Bình êm khói phủ”
“Đồi trà xanh bát ngát khỏa tay hôn”
“Tôi sẽ mời em nhắp chút rượu cần”
“Hơi men ngọt tô hồng thêm má đỏ...” (thơ Vương Sinh)












                                     
Thác Dambri (h. trên Internet)

Sách tham khảo:
-        Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
-        Sách Hướng Dẫn Du Lịch
-        Tài Liệu trên Internet về tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt, Bảo Lộc và trường Võ Bị Quốc Gia Đà
Lạt.

Chú ý: Chúng tôi xin phép các tác giả được đăng tải những hình ảnh kèm theo trong bài viết,
trích từ Internet, phổ biến với mục đích giáo dục và bất vụ lợi.
Những bài nói chuyện trong chương trình “Những Nẻo Đường Việt Nam” do nghệ sĩ Đỗ
Thanh phụ trách sẽ được lưu trữ trên trang web www.hungsuviet.us (ngoại trừ hình ảnh
video).


                        
Nhạc và Thơ về Đà Lạt

                Ai lên xứ hoa đào
                     (Hoàng Nguyên)




(Ánh Tuyết ca)

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi,
Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ,
Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.
Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.

Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa
Hoa bay đến bên người ngại ngần rồi hoa theo chân ai.
Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa,
Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương,
Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.

Ôi! màu hoa đào, màu hoa đào chiều xuân nào.
Ôi! màu hoa đào như môi hồng người mình yêu,
Ôi! màu hoa đào đã bao lần vì màu hoa
mà lữ khách lắng hồn thơ dừng chân lãng du.

Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa
Cho tôi bớt mơ mộng chiều chiều nhìn mây trôi xa xa,
Người về từ hôm nao mà lòng còn thương vẫn thương
Bao nhiêu năm tháng cũ mà hồn nào tôi vấn vương.
Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai.


Đà-lạt Trăng Mờ
(Thơ Hàn Mặc Tử)

Đây phút thiêng-liêng đã khởi đầu.
Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ!
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt
Như đón từ xa một ý thơ.

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nưới hò reo,
Để nghe tơ liễu rung trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu.

Hàng thông lấp-loáng đứng trong im
Cành lá in như đã lặng chìm.
Hư-thực làm sao phân-biệt được!
Sông Ngân-Hà nổi giữa màn đêm.

Cả trời say nhuộm một màu trăng,
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng.
Không một tiếng gì nghe động-chạm,
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng ...


Thơ viết ở Đà Lạt
(Thơ Mường  Mán)  

9 Chợt thấy đôi khi lòng là quán
Trống tênh dăm ghế bụi mốc cời
Chờ nhau
Bếp đã thành tro nguội
Tay cũng đành
Mười ngón pha phôi

Chợt thấy đôi khi lòng là sóng
Cuốn tim bay theo bước chân người
Ngã bảy ngã ba
Tình mất bóng
Ngậm riêng mình nửa mảnh
Trăng phai

Chợt thấy đôi khi đời quá mệt
Ta rủ ta lên núi rong chơi
Cám ơn em
Đóa quì độ lượng
Đã hồn nhiên
Mở cửa đất trời...


Cảm Nhận Chiều Đà Lạt
(Thơ Trương Nam Hương)  

Ở đây sương tím như hoa tím
Mây lang thang cổ tích bay về
Em chợt hiện sau bức rèm nửa khép
Anh được lần tiên cảm khá si mê

Dây dưa nắng bên hồ không nỡ tắt
Người kiêu sa vạt áo quét ngang chiều
Mắt em lướt thơ tình anh lạc mất
Giữa bốn bề vi vút gió, thông reo...

Em cứ lẫn trong sương huyền ảo thế
Vầng trăng non cong khuyết nhánh lông mày
Anh đứng sững tựa hồ chân bén rễ
Trái thông non sơ ý rụng trên tay.