Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Thành Phố Huế: Di tích Văn Hóa và Lịch Sử


“Đi đâu cũng nhớ quê mình”
“Nhớ sông Hương gió mát, nhớ Ngự Bình trăng treo” (ca dao).

Đó là 2 câu ca dao nói về xứ Huế.
Thành phố Huế nay thuộc tỉnh Thừa Thiên, xưa là kinh đô triều Nguyễn (1802-1945), với
sông Hương núi Ngự, phong cảnh hữu tình và nhiều di tích lịch sử.











Tỉnh Thừa Thiên Huế diện tích trên 5 ngàn km2, dân số trên 1 triệu người, đa số là dân tộc
Việt (kinh), còn có dân tộc Tà Ôi, Cà Tu, Bru, Vân Kiểu và Hoa, phía nam giáp Đà Nẵng, bắc
giáp Quảng Trị, tây nam giáp Quảng Nam, phía tây là dẫy Trường Sơn biên giới Việt Lào,
đông trông ra biển, cách Sài Gòn 1,080 km và cách Hà Nội 660 km. Ngoài tỉnh lỵ là thành phố
Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế còn 8 huyện: Phong  Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang,
Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đông.





















                                             Tỉnh Thừa Thiên Huế

Núi chiếm ¼ diện tích (ở biên giới Việt Lào), trung du chiếm ½ , đồi thấp, cao dưới 500m,
đồng bằng (1400km2) hẹp, dài, song song với bờ biển, có cồn cát, đầm, phá, hồ nhỏ nước
ngọt ở sát núi, với 5 con sông chính là Ô Lâu, Bồ, Hương (lớn nhất, 300km2), Truồi và Cầu
Hai, phát xuất từ Trường Sơn và chảy qua Huế ra biển ở các cửa: Thuận An, Tư Hiền, Lăng
Cô. Có cảng Thuận An, Vịnh Chân Mây nước sâu 20 m, sân bay Phú Bài, đường sắt và
đường bộ xuyên Việt 1A. Dân Huế thường ăn chay 2 lần trong tháng.




















                                    Cổng Hiền Nhân (Source: Wikipedia)

Kinh thành Huế được xây cất từ năm 1805 (thời vua Gia Long) đến năm 1832 (thời vua Minh
Mạng) mới hoàn tất, diện tích 5.2 km2 bên bờ bắc sông Hương, gồm 3 vòng: Phòng thành,
Hoàng thành và Tử Cấm thành. Bên trong các lớp thành cao, hào sâu là các công trình xây
dựng như: Kỳ Đài (cột cờ), Ngọ môn, sân Đại Triều Nghi, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh,
điện Càn Thành, điện Khôn Thái, điện Kiến Trung và cửa Hòa Bình...

Phòng thành: Vòng thành phía ngoài cùng để phòng thủ, gồm có 10 cửa đường bộ và 2
cửa đường thủy, chu vi 9,950m, hào sâu, bờ thành cao, dày 2.1m có 24 pháo đài.

Hoàng thành:  Vòng thành thứ nhì (Đại Nội), chu vi 2,450m, có 4 cửa Ngọ Môn (Nam - cửa
chính dành cho vua), Hòa Bình (Bắc), Hiền Nhơn (Đông) và Chương Đức (Tây).

















Tử Cấm thành: Vòng trong cùng, chu vi 1225m, có 7 cửa ra vào, nơi vua ở và làm việc,
hoàng gia và thái giám ở. Xâm nhập bất hợp pháp sẽ bị tử hình.
















                                     Cấm Thành (Source: Wikipedia)

Ngọ môn: Dài 58m, rộng 27.5m, cao 17 m gồm 3 tầng, là cửa chính của Hoàng thành, chia
thành 5 cửa với 5 lối đi (giữa: cao 4.2m, rộng 3.7m dành vua đi, 2 bên tả hữu dành cho các
quan và 2 lối ngoài cùng dành cho lính hầu). Trên vòm cổng là
lầu Ngũ Phụng (vua ngự
trong các dịp lễ. Nơi lễ xướng danh các sĩ tử trúng tuyển thi Hội, thi Đình - Yết bảng ở Phú
Vân Lâu). Cửa Ngọ Môn chỉ mở khi vua đi hoặc tiếp sứ thần.

















                                             Ngọ Môn (source: Wikipedia)

Điện Thái Hòa: Nơi thiết triều, xây 1805, diện tích 1300m2, tiền điện phía trước và chính điện
ở phía sau nơi có ngai vàng.












                     Điện Thái Hòa                              Điện Thái Hòa (phía sau)

Thế Miếu: Xây năm 1821, thờ các vua nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị , Tự
Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định, tất cả là 7 vua. Tháng 1, 1969 thêm 3 vua chống
Pháp là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân tổng cộng 10 vua - Thực tế có 13 vua: Dục Đức
làm vua 3 ngày bị giết, Hiệp Hòa làm vua 4 tháng bị giết và Bảo Đại vị vua cuối cùng nhà
Nguyễn, thoái vị).

Thế Miếu là một trong 5 Miếu:
Triệu Miếu (thờ Nguyễn Kim, lập ra nhà Nguyễn), Thái Miếu
(thờ 9 chúa Nguyễn),
Hưng Miếu (thờ cha vua Gia Long) và điện Phụng Tiên (giống thế
miếu nhưng dành cho các bà Hoàng đến cúng lễ - Những bà này không được vào Thế Miếu.)
Thế Miếu to lớn bậc nhất so với các đền miếu VN, dài 56m, rộng 28m, mỗi gian trong nội thất
bày 1 sập chân quỳ sơn son thiếp vàng, khán thờ, bài vị và đồ tế khí quí giá, cúng giỗ vua rất
trọng đại.

Cửu Đỉnh: 9 đỉnh: Cao (lớn nhất: nặng 2601 kg, cao 2.5 m), Nhân, Chương, Anh, Nghi,
Thần, Tuyên, Dụ, Huyền (nhỏ nhất, nặng 1935 kg, cao 2.31 m). Đúc Cửu Đỉnh mất 3 năm
(1835-1837), dùng 20 tấn đồng thau. Mỗi Đỉnh tượng trưng cho 1 vua, toàn thể là sự bền
vững của triều đại.
Trên thân mỗi đỉnh có 18 tiết họa và chữ đúc nổi, vẽ phong cảnh sông núi, sản vật, chim
muông, hoa lá và sinh hoạt của người Việt Nam.















                                      Cửu Đỉnh (Source: Wikipedia)

Cửu vị thần công: Là 9 khẩu đại bác đúc bằng đồng lớn nhất Việt Nam, đặt tại cửa Ngọ
Môn, và được triều đình nhà Nguyễn phong tước “Thần Oai Vô Địch Thượng Tướng Quân”
(đúc năm 1803 đến 1804, gồm 4 khẩu nhóm “tứ thời” Xuân, Hạ, Thu, Đông và 5 khẩu nhóm
“ngũ hành” Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Trên thân súng và bánh xe có khắc hình hoa văn rất
mỹ thuật.















                                                      Súng Thần Công

Hiển Lâm Các: Trong khu vực Thế Miếu, làm bằng gỗ cao 25m, 3 tầng (cao nhất trong
Hoàng Thành), thờ các công thần triều Nguyễn ở Tả tùng tự và Hữu tùng tự 2 bên Hiển Lâm
Các.

Cung Thất: Nơi ở của vua và Hoàng tộc, gồm có các cung: Càn Thành (vua ở), Khôn Thái
(Hoàng Hậu ở), Diên Thọ (cha mẹ vua ở, có hành lang và mái che để vua đến thăm viếng),
Trường Sinh (bà nội vua ở). Nay chỉ còn cung Diên Thọ và Trường Sinh (tất cả đã bị phá
hủy).

Lăng Tẩm: Có 8 lăng chính, xây cất công phu về  hướng tây nam kinh thành Huế (xây từ lúc
vua còn sống). Gồm 2 khu: khu thờ phụng, tưởng niệm (tẩm), và khu phần mộ (lăng). Trong
lăng có đủ hồ sen, núi giả, vườn hoa...chung quanh có tường thành, mỗi lăng một kiểu riêng
tùy theo thị hiếu mỗi vua.













Lăng Gia Long (Thiên Thọ lăng): Ở tả ngạn sông hương, trên núi Thiên Thọ, cách Huế 16
km (xây từ 1814 đến 1820 mới xong), nhiều cây thông cổ thụ. Trước lăng có hồ bán nguyệt,
phía sau có sân chầu, 2 hàng võ sĩ, voi, ngựa đá rồi đến sân tế cao dần lên đến Bửu Thành
(mộ vua và mộ Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu). Bên trái Bửu Thành là nhà bia, bên phải là điện
thờ.














                              Lăng Minh Mạng (Source: Wikipedia)

Lăng Minh Mạng (Hiếu lăng): Rộng 18 ha, trên đồi Cẩm Khê , huyện Hương Trà  cách Huế
12 km (xây năm 1840 đến 1843 mới xong). Bao quanh lăng tường cao 3m, dày 0.5m có 3
cửa ra vào. Trong lăng có 20 công trình kiến trúc.
















                                                     Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng): Ở hữu ngạn sông Hương trên núi Dương Xuân (làng Dương
Xuân Thượng), cách Huế 8 km, giữa rừng thông (xây 1864, xong 1867, diện tích 475 ha. Có
tường dày bao quanh và nhiều kiến trúc trong lăng.

















                                      Lăng Khải Định (Source: Wikipedia)

Lăng Khải Định (Ứng lăng): Trên đỉnh núi Châu Ê, cách Huế 10 km (xây 1920 đến 1932
mới xong, dùng xi măng cốt sắt và khảm sành sứ trên cột, tường rất lộng lẫy) trông như 1 lâu
đài đồ sộ, từ chân núi lên tới Tẩm Điện qua 109 bậc.

Hổ Quyền: Là đấu trường của voi và hổ cho vua quan xem, cách Huế 4 km trên bờ nam
sông Hương, xây từ 1830 (Minh Mạng), gồm 2 vòng tường thành tròn đồng tâm, đường kính
vòng ngoài 45 m, cao 4.5 m, đường kính vòng trong 35m, cao 6m. trận đấu chót 1904.

Chùa chiền:

Chùa Thiên Mụ: Trên đồi Hà Khê, bên bờ trái sông Hương, cách Huế 7 km về phía tây, xây
từ thế kỷ 14 (huyền thoại: Xưa có bà tiên áo đỏ quần xanh đến ngồi trên đồi nói: “Phải có
chân chúa đến dựng chùa ở đây mà thu góp khí thiêng để giữ vững long mạch”, nói xong rồi
biến mất, nên có tên chùa là Thiên Mụ), có tháp Phước Duyên hình bát giác cao 21 m, 7
tầng. Ở mặt phía nam, mỗi tầng tháp có 1 cửa cuốn đặt tượng Phật. Trên cùng là 3 tượng
Phật (xưa bằng vàng, nay bằng đồng). Chuông chùa Thiên Mụ là Đại Hồng Chung cao 2.5m,
đường kính 1.4m, nặng 2,632 kg. Bia đá dựng năm 1715, cao 2.6m, rộng 1.2m đặt trên lưng
rùa lớn bằng đá cẩm thạch.

















                                          Chùa Thiên Mụ (source: Wikipedia)

Chùa Diệu Đế: Ở Phù Cát, có 2 lầu chuông, 1 lầu trống và 1 lầu bia. Chính Điện là Đại giác,
tả hữu chính điện là Thiền Nguyên, chính giữa là lầu Hộ Pháp.

Chùa Từ Đàm: Là 1 chùa lớn xây từ cuối thế kỷ 17 (1695), ở Tràng An, cách Huế 2km, qua
cầu Nam Giao, phía trước là núi Kim Phụng, bên trái là chùa Linh Quang và nhà thờ Phan Bội
Châu, phía sau là chùa Thiên Minh, bên phải là đường Điện Biên Phủ, có 2 lầu chuông, trống
và sân rất rộng

Chùa Thuyền Tôn: Thuộc thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, xây trên đồi cao, bên phải là núi Thiên
Thai (nên còn gọi là Thiên Thai Thuyền Tôn tự hay Thiên Thai Nội tự).
Cổng chùa xây 4 trụ lớn, có cây bồ đề cổ thụ, có tháp của Tổ Liễu Quán (người sáng lập
chùa), trước cổng tháp đề 7 chữ “Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương” (Hoa đàm đã rã cánh
nhưng hương thơm còn mãi, ý nói công đức của ngài sáng lập chùa còn mãi.) Phía sau còn
tháp lớn của Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên. (2 tháp kiến trúc đẹp nhất Huế).

Chùa Thánh Duyên: Trên núi Túy Vân, huyện Phú Lộc, cách Huế 30 km phía đông nam, do
chúa Nguyễn Phúc Chu dựng cuối thế kỷ 17. Vua Minh Mạng cho trùng tu 1825, đổi tên núi
thành Túy Hoa. Chùa gồm ngôi chính điện ở dưới núi (3 gian, 2 chái), lưng chừng núi phía
sau là Đại Từ Các, trên đỉnh là Bảo tháp Điểu Ngự cao 12 m hình khối tứ giác. Chùa thờ Phât
và có long vị vua Minh Mạng (với bảng đề: Đương kim Minh Mạng Hoàng Đế vạn thọ vô
cương).

Bảo tàng cổ vật Huế: Toà nhà 7 gian 2 chái thuộc Điện Long An trong cung Bảo Định.
1885, Pháp chiếm làm sở chỉ huy. 1909, vua Duy Tân cho chuyển ra chỗ  hiện nay. Có nhiều
cổ vật thuộc về triều đình Huế rất quí giá.

Thắng cảnh nổi tiếng: Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới
năm 1993, với trên 300 công trình kiến trúc gồmThành quách, Cung Điện, Lăng Tẩm, Chùa
chiền, Miếu mạo và hệ thống nhà vườn.

Sông Hương: Tên gọi vì xưa kia chảy qua rừng hoa thơm (phát xuất từ dẫy Trường Sơn – A
Lưới), nay chảy qua hệ thống nhà vườn, xác hoa trên sông đem mùi thơm khi chảy vào Huế.
Sông dài 80 km, từ hướng nam bắc qua Điện Hòn Chén (Lễ Hội Hòn Chén mỗi năm 2 kỳ
Xuân Thu, suy tôn Thiên Y A Na Thánh Mẫu là mẹ Xứ Sở theo tục lệ người Chàm,) Ngọc
Trản, (Hương Trà) đổi hướng bắc-tây qua đồng bằng Nguyệt Biều, Lương Quan rồi chuyển
sang hướng bắc-đông vào thành phố Huế, qua cồn Hến, qua làng Sinh (kinh đô xưa của
Châu Hóa) trước khi ra biển ở phá Tam Giang. Từ Bằng Lăng đến Thuận An, sông Hương
dài 30 km chảy rất chậm. Nước trở thành màu đen khi chảy quanh chân núi Ngọc Trản vì
nước ở đây rất sâu. Sông uốn khúc qua các làng Kim Long, Nguyệt Biều, Vỹ Dạ, Đông Ba,
Gia Hội, Chợ Đình, Nam Phố, Bảo Vinh rồi qua Huế.

















                            Sông Hương và cầu Tràng Tiền (Source: Wikipedia)

Núi Ngự Bình: Còn tên là Bằng Sơn, cách Huế 3 km, hình thang cao 105m, đỉnh bằng phẳng
(nhìn xa như bức bình phong che chở Huế - vua Gia Long chọn địa điểm xây dựng kinh đô
Huế và đổi tên núi là Ngự Bình - Từ đó có tên Sông Hương núi Ngự, tượng trưng cho Huế.)
Trên đỉnh Ngự Bình, có thể thấy toàn cảnh Huế với đền đài cung điện, lăng tẩm, chùa chiền,
sông núi, Trường Sơn, làng mạc, cửa biển Thuận An và cả  biển đông nữa.

Đồi Vọng Cảnh: Cách Ngự Bình vài km, bên sông Hương, nơi ngắm cảnh Huế và làng mạc,
lăng tẩm.

Cầu Tràng Tiền: Bắc qua sông Hương giữa thành phố Huế, dài 403m, 6 nhịp, thành cầu
bằng thép hình vành lược, do Pháp xây 1905 (thay thế cầu do vua Thành Thái cho xây 1897-
1899 đã đổ năm 1904). Tên cầu do Pháp đặt là Clê-Măng-Xô (Clemenceau). Chính phủ Trần
Trọng Kim đặt tên là cầu Nguyễn Hoàng, nhưng dân chúng vẫn gọi là cầu Tràng Tiền (ở gần
xưởng đúc tiền xưa kia).

Cầu Tràng Tiền sáu vai mười hai nhịp
Em qua không kịp, tội quá anh ơi
Thà rằng không biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa một nơi cũng buồn! (ca dao)

Tết Mậu Thân 1968 cầu bị phá hoại 1 nhịp, sau đã được sửa lại.

Phú Văn Lâu:  Là nơi niêm yết tên sĩ tử đậu thi Hội hoặc thi Đình (xướng danh ở lầu Ngũ
Phụng trên Ngọ môn), gần sông Hương, ở phía phải trước Cột Cờ, cạnh quốc lộ 1A . Phía
trước sông Hương có Nghinh Lưỡng Đình nơi vua nghỉ mát và tắm. Ngày sinh nhật vua Minh
Mạng (1829- sinh nhật 40), có voi và hổ đến phủ phục trước Phú Vân Lâu, để giải trí và
nhiều trò chơi khác. Các vua Thiệu Trị, Tự Đức cũng tổ chức sinh nhật tương tự.

Chợ Đông Ba: Cách cầu Tràng Tiền khoảng 100 m. Chợ lớn nhất ở Huế, đặc biệt bán nón
Huế (nón bài thơ).

Làng vườn: Dọc sông hương, nổi tiếng Thanh Trà Nguyệt Biều, quýt Hương Cần, Nhãn lồng
Kim Long, vải Phụng Tiên, cam Mỹ Lợi. Những làng vườn như làng Tuấn, Nguyệt Biều, Vườn
Chùa Huyền Không, vườn An Hiên... đều nổi tiếng.

Rừng Quốc gia Bạch Mã: Cách Huế 50 km, nơi nghỉ mát giống như Sa Pa, Đà Lạt ở độ cao
1000-1444m (Pháp đã xây biệt thự nghỉ mát tại đây từ đầu thế kỷ 20).Tổng diện tích rừng là
22,031 ha.

Bãi Biển Thuận An: Bên cạnh cửa Thuận An, nơi sông Hương đổ ra biển qua phá Tam
Giang, (đầu thế kỷ 19, vua Minh Mạng cho xây đài Trấn Hải, đặt tên là cửa Thuận An), cách
Huế 13 km, bãi tắm rất đông người.

Bãi tắm Lăng Cô: Dài 10 km, cách Bạch Mã 24 km, cạnh quốc lộ 1A, gần đèo Hải Vân, bờ
biển thoai thoải, cát trắng, độ sâu trung bình 1m, gần thắng cảnh Mũi Chân Mây, làng cá
Lăng Cô.

Bãi Biển Cảnh Dương: Cách Huế 60 km, là bãi biẻn đẹp nhất, dài 8 km, rộng 200 m, hình
vòng cung, giữa Chân Mây Đông và Chân Mây Tây.
Suối Voi: Cách Huế 40 km về phía nam thuộc huyện Phú Lộc, những hòn đá giống hình đàn
voi. Suối voi dài 500 m, có Vũng Voi và Vũng Đu (đu dây qua suối).

Suối nước khoáng Mỹ An: Ở huyện Phú Vang, cách Huế 7 km, trên đường từ Huế đi Thuận
An. Nước suối có khả năng chữa lành một số bệnh tật.

Lịch sử: Xưa là đất Chiêm (1306, vua Chế Mân dâng 2 Châu Ô, Châu Rí (Lý) xin vua Trần
cưới công chúa Huyền Trân (con vua Trần Nhân Tông, em gái Trần Anh Tông). Vua Trần đổi
châu Ô thành Thuận Châu (nay là Quảng Bình, Quảng Trị) và châu Rí thành Hóa Châu (nay
là Thừa Thiên Huế). Bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) mở đất phương Nam, đóng
dinh ở Ái Tử, sau Chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691) dời dinh đến
Phú Xuân (tên xã,
huyện Hương Trà – nay là thành phố Huế) gọi là
Chính dinh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi
tên là Đô thành. Tất cả các dinh đều ở đất Thuận Hóa.
Năm
1774, quân chúa Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy, vượt sông Gianh chiếm đô thành
Phú Xuân.

1786, Nguyễn Huệ được vua Tây Sơn (Nguyễn Nhạc) phong làm Tiết Chế, đánh đuổi quân
Trịnh, chiếm Phú Xuân.
1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua tức vua Quang Trung, đóng đô tại Phú Xuân.
1802, Nguyễn Ánh đánh thắng nhà Tây Sơn, lên ngôi vua đóng đô ở Phú Xuân.
1883, Huế rối loạn về việc phế lập (do Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chủ trương),
vua Hiệp Hòa được lập thì quân Pháp đánh chiếm cửa Thuận An. Hòa ước năm quí mùi 1883
thành hình, Pháp bảo hộ Việt Nam.
1885, quân Pháp (Khâm sứ De Champeaux) vào Huế, triều đình (vua Hàm Nghi) chạy ra
Quảng Trị.
1945, vua Bảo Đại thoái vị, đến 1949 về làm Quốc Trưởng ở Sài Gòn.
1968 biến cố Tết Mậu Thân, lính du kích Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và quân Đội Nhân
Dân Bắc Việt đánh chiếm Huế, gây ra cuộc thảm sát hàng ngàn dân Huế (massacre at Huế
committed by the Communist forces- Wikipedia).

Tài liệu tham khảo:
-        Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
-        Non Nước Việt Nam – Sách Hướng Dẫn Du Lịch
-        Đại Nam Nhất Thống Chí
-        Tài liệu trên Internet – Wikipedia