Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
                                            GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

                                          (Mùng 10 tháng 3 Âm lịch mỗi năm)
Tổng quát

Một nước trong quá trình lịch sử, có thể có nhiều triều đại, với nhiều vua chúa, nhiều thể
chế, với nhiều nhà lãnh đạo, nhưng con dân chỉ có một Quốc Tổ mà thôi ... Giỗ Tổ là một
hình thức biểu lộ tình yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam trong tinh thần “uống nước
nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

“Dù ai buôn bán ngược suôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba thì về.”

Hùng Vương

Tiểu sử:
Hùng Vương là tên gọi chung 18 đời Vua Hùng trong họ Hồng Bàng (2879-258 tr.
Tây lịch). Nếu kể cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, có tất cả 20 đời Vua trong họ
Hồng Bàng.

Theo truyền thuyết, Đế Minh là cháu 3 đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, lấy
Tiên sinh ra Lộc Tục. Vua phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam tức Kinh Dương Vương.

Kinh Dương Vương kết hôn với
Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm nối ngôi vua, xưng là Lạc Long
Quân.

Lạc Long Quân cưới bà Âu Cơ sinh được 100 con trai. Về sau, 50 con theo cha xuống biển
50 con theo mẹ lên núi, đi về phương Nam lập ra nước Văn Lang.

Người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu,
chia nước ra làm
15 Bộ, cha truyền con nối theo chế độ Phụ Đạo, có quan Lạc Tưóng, Lạc
Hầu phụ tá và quan Bồ Chính là chức quan nhỏ trông coi Lạc dân, và gọi
con trai là Quan
Lang, con gái là Mỵ Nương
. Hùng Vương truyền ngôi được 18 đời.

Công đức: Các vị vua Hùng có công lập nên nước Văn Lang, tức là nước Việt Nam ngày
nay, nên gọi là Quốc Tổ Hùng Vương.

Đền thờ: Trên núi Nghĩa Lĩnh, Huyện Phong Châu, Tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) Bắc Việt. Tại
Hoa Kỳ, Đền Hùng ở Lillte Sàigòn do Hội CNAM. Nay do Hội Đền Hùng Hải Ngoại (đường
Magnolia – Westminster city - Little Sài Gòn)  thờ phụng. Hàng năm, cả hai Hội CNAM và Hội
Đền Hùng Hải Ngoại đều tổ chức ngày Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.
Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 10 tháng 3 Âm Lịch mỗi năm.

____________________________________________________________

Tóm tắt
Lịch Sử Việt Nam
(từ thời Hồng Bàng đến 2009)


Nước Việt Nam thuộc về phía đông nam Á châu, là một dải non sông dài và hẹp ở miền
Trung, rộng hai đầu Nam Bắc giống hình chữ S, bắc giáp Trung Hoa, tây giáp Lào và
Campuchia, đông và nam giáp biển Đông.

Dân tộc Việt đa số thống nhất về chủng tộc, tiếng nói và phong tục tập quán.

Theo truyền thuyết, nước Việt Nam xưa bao gồm vùng đất Ngũ Lĩnh, phía nam nước Tàu
từ Động Đình Hồ tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành, miền Trung Việt Nam ngày nay) nên gọi
là Lĩnh Nam. Sau có nhiều tộc Việt đến sinh sống ở Lĩnh Nam, vì thế còn gọi là đất Bách
Việt.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm.

Họ Hồng Bàng mở nước từ năm 2879 trước CN, do Kinh Dương Vương trị vì rồi truyền
ngôi cho Lạc Long Quân và 18 đời vua Hùng. Các vị vua Hùng đóng đô ở Phong Châu
(Bắc Việt ngày nay), đặt tên nước là
Văn Lang.

Thời vua Hùng có những chuyện cổ tích truyền miệng như “Phù Đổng Thiên Vương phá
giặc Ân”, “Bánh chưng bánh dày”, “Sơn tinh Thủy tinh” v…v…

Năm 257 tr. CN, Thục Phán đánh bại vua Hùng thứ 18, lên làm vua, hiệu
An Dương
Vương
lập ra nhà Thục và đặt tên nước là Âu Lạc, kéo dài 50 năm.

Năm 207 tr. CN, Triệu Đà phản lại nhà Tần, chiếm đất Bách Việt, lên làm vua tức
Triệu Vũ
Đế
, thành lập nước Nam Việt độc lập với nhà Hán. Nhà Triệu truyền được 5 đời kéo dài
96 năm.  

Năm 111 trước CN, nhà
Tây Hán (Tiền Hán) xâm lăng và tiêu diệt nước Nam Việt, chia ra 9
quận để cai trị.

Đây là thời kỳ
Bắc thuộc lần Thứ Nhất (111 tr. CN – năm 39), kéo dài 150 năm.

Năm 40, Hai chị em bà Trưng Trắc, Trưng Nhị vì nợ nước thù nhà đã khởi nghĩa đánh
đuổi thái thú Tô Định về Tàu, thu lại 4 quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và
65 thành, lên làm vua tức
Trưng Nữ Vương (40-43), được 3 năm thì bị nhà Đông Hán sai
Mã Viện sang xâm lăng. Hai Bà Trưng phải nhẩy xuống sông Hát tuẫn tiết.

Đây là thời kỳ
Bắc thuộc lần Thứ Hai (43-544) kéo dài 501 năm.

Trong thời kỳ này có sự nổi dậy của
Bà Triệu Thị Trinh ở Thanh Hóa đánh nhau với
quân Đông Ngô do thứ sử Lục Dận chỉ huy. Bà Triệu đã hy sinh năm 23 tuổi.

Nhà Đông Ngô đô hộ nước ta rất tàn ác, chia cắt nước Nam Việt thành
Quảng Châu và
Giao Châu
(Giao Châu gồm 4 quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam).
Năm 544 Lý Bôn nổi lên đánh đuổi thứ sử Tiêu Tư của nhà Lương về Tàu (Đông Ngô -
Tấn - Tống - Tề - Lương), lên làm vua tức
Lý Nam Đế (544-548) lập ra nhà Tiền Lý (544-
602), đặt tên nước là
Vạn Xuân. Trong thời kỳ này có Triệu Quang Phục (Dạ Trạch
Vương) đánh đuổi Trần Bá Tiên của nhà Lương, lên nối ngôi nhà Lý tức Triệu Việt Vương
(549-571). Sau Lý Phật Tử giành được ngôi của Triệu Việt Vương trở thành Hậu Lý
Nam Đế (571-602), nhưng đến năm 602 phải đầu hàng nhà Tùy (Nhà Tùy thống nhất
được Nam Bắc nước Tàu thời đó).

Đây là thời kỳ
Bắc thuộc lần thứ 3 (603-939).

Trong thời kỳ này có các cuộc khởi nghĩa của
Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), Mai Hắc
Đế
(722), Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (791) và họ Khúc dấy nghiệp ở Giao Châu
gồm có
Khúc Thừa Dụ (900-907), Khúc Hạo (907-917), Khúc Thừa Mỹ (917-923). ..

Năm 939,
Ngô Vương Quyền dùng mưu cắm cọc bọc sắt trên sông Bạch Đằng phá tan
quân Nam Hán, bắt được thái tử Hoằng Tháo của Nam Hán giết đi rồi xưng Vương, mở ra
kỷ nguyên tự chủ từ đó.

Tổng cộng 3 thời kỳ Bắc thuộc là 989 năm.

Ngô Quyền (939-944) chỉ xưng Vương, truyền 2 đời dài 26 năm.

Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 Sứ quân, lên làm vua tức
Đinh Tiên Hoàng (968-979),
lập ra nhà Đinh, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, truyền 2 đời dài 12 năm.

Năm 980 Lê Hoàn tức
Lê Đại Hành (980-1005) lên ngôi, đánh Tống Bình Chiêm, lập ra
nhà Tiền Lê, truyền 3 đời, dài 29 năm.

Năm 1010 Lý Công Uẩn lên ngôi tức
Lý Thái Tổ (1010-1028), lập ra nhà Lý,  đóng đô ở
Thăng Long, truyền 9 đời , dài 216 năm. Nhà Lý có danh tướng
Lý Thường Kiệt (1019-
1105) và nhiều tướng tài đánh Tống bình Chiêm làm vẻ vang dân Việt. Vua  Lý Thánh
Tông (1054-1072) đổi tên nước là Đại Việt.

Năm 1225 Trần Cảnh lên ngôi tức
Trần Thái Tông (1225-1258), lập ra nhà Trần truyền
được 13 đời, kéo dài 175 năm. Nhà Trần có danh tướng
Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn
và rất nhiều danh tướng đã phá tan quân Nguyên Mông 3 lần xâm lăng Đại Việt.
Chiến thắng Bạch Đằng Giang một lần nữa làm quân thù phương Bắc khiếp vía, rửa
được mối nhục gần ngàn năm bị đô hộ.

Năm 1400,
Hồ Quý Ly lên làm vua lập ra nhà Hồ chỉ được 7 năm thì bị giặc Minh xâm lăng,
đô hộ Việt Nam thêm 13 năm (1414-1427). Đây là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 4.

Năm 1428 Bình Định Vương
Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, lên ngôi tức Lê Thái Tổ (1428-
1433) lập ra nhà Hậu Lê truyền 27 đời kéo dài 160 năm. Thời nhà Hậu Lê có danh nhân
Nguyễn Trãi (1380-1442) và rất nhiều tướng tài giúp vua Lê Lợi đánh giặc xâm lược,
giành lại đất nước Đại Việt.

Sau nhà Lê, đến thời
nhà Mạc (1527-1592) truyền được 8 đời, dài 65 năm ở kinh thành
và 85 năm ở vùng Cao Bằng.

Thời
Trịnh Nguyễn phân tranh, chia nước Việt thành Đàng Trong (Nam) và Đàng
Ngoài (Bắc), lấy
sông Gianh làm ranh giới.

Chúa
Nguyễn Hoàng (1558-1613) ở Đàng Trong và các chúa Nguyễn nối tiếp có công
mở đất miền Nam rộng tới mũi Cà Mâu.

Năm 1788 Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi tức
Quang Trung Hoàng Đế (1788-
1792) đánh đuổi giặc Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy vào mùa xuân 1789, mở đầu cho
thời kỳ độc lập và xóa bỏ lằn ranh phân chia Nam Bắc.

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu
Gia Long tức Nguyễn Thế Tổ (1802-1819)
lập ra nhà Nguyễn, thống nhất Việt Nam, truyền 12 đời kéo dài 143 năm. Nhà Nguyễn chỉ
giữ được nền độc lập từ 1802 đến 1883 kéo dài 81 năm. Từ 1883 đến 1945 là thời kỳ
Pháp đô hộ, dài 62 năm.

Trong
thời kỳ Pháp thuộc, có nhiều tổ chức, phong trào, đảng phái và anh hùng, danh
nhân nổi lên chống Pháp, giành quyền tự quyết cho dân tộc Việt. Những vị anh hùng,
danh nhân chống Pháp được lịch sử nhắc nhở như
Trương Công Định (1820-1864),
Nguyễn Trung Trực (1837-1868), Phan Đình Phùng (1844-1895), Hoàng Hoa Thám
(1858-1913), Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1872-1926), Nguyễn Thái
Học
(1901-1930)…

Sau 1945 Pháp trở lại Việt Nam thêm 9 năm nữa cho tới
Hiệp Định Genève 20 tháng 7,
1954 chia đôi đất nước, lấy ranh giới là sông
Bến Hải: Miền Bắc theo chế độ Cộng Sản
và Miền Nam theo chế độ Dân Chủ Tự Do.

Sau 1975, chế độ Cộng Sản cai trị cả nước Việt Nam, lập ra
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa.
Ngày nay có hơn 3 triệu người Việt tự do đã di tản và định cư ở nước ngoài, lập thành
những khu
Cộng Đồng Đồng Hương người Việt tại nhiều quốc gia trên thế giới và mau
chóng ổn định đời sống, tạo được nhiều thành công về kinh tế, thương mại, khoa học, y
tế, kỹ thuật và chính trị.. làm vẻ vang dân tộc Việt.

(
Song Thuận – 5/2009)

* Tham khảo:

- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
- Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
- Tự điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam - Nguyễn Q Thắng, Nguyễn Bá Thế
- Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn
- Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca - Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái
- Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam - Phạm Cao Dương
- Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam - Nguyễn Khắc Thuần
- Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời - Đào Duy Anh
- An Nam Chí Lược - Lê Tắc
- Việt Sử Tiêu Án - Ngô Thời Sỹ
- Sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê
- Sử Ký - Tư Mã Thiên (Sách Dịch ra tiếng Việt)
- Thủy Kinh Chú Sớ - Lịch Đạo Nguyên (chủ) - Sách dịch ra tiếng Việt.












































_














































































Chú thích:

* Tam Hoàng: Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng - hoặc - Phục Hy, Thần Nông ,
Hoàng Đế - hoặc - Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông.

Ngũ Đế: Thái Hạo, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hạo, Chuyên Húc - hoặc – Hoàng Đế,
Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Chí - hoặc – Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc,
Nghiêu, Thuấn.

(1a) “Trung  Hoa tiến từ thời đại đá mài lên thời đại đồ đồng một cách dần dần. Người ta đã
khai quật được nhiều đồ đồng nhất ở An Dương (Hà Nam)” (Sử Trung Quốc - Nguyễn hiến
Lê – tr. 53)

(1b) “Trống đồng Việt Nam có nhiều loại hình, nhưng tất cả khởi nguồn từ trống Ðông Sơn
mà đỉnh cao là sự hoàn thiện kỹ thuật chế tạo là trống đồng Ngọc Lũ. Trống đồng Việt Nam
có niên đại khởi đầu khoảng thiên niên kỷ I  TCN cho đến một vài thế kỷ sau công nguyên”
…(Wikipedia).

Do những tranh cãi giữa các nhà khảo cổ về nguồn gốc của trống đồng, chúng ta càng có
thêm bằng chứng xác thực về miền Nam Lĩnh (Quảng Dông Quảng Tây ngày nay), xưa
thuộc về dân tộc Lạc Viẹt của nước Văn Lang trong truyền thuyết, tức thuộc về VN ngày
nay: “Quan điểm này tương đồng với sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam,
Trung Quốc, hay phương Tây rằng trống đồng là sản phẩm của người Lạc Việt - tộc người
Việt cổ được cho là có địa bàn sinh sống trải từ miền Nam Trung Quốc tới miền Bắc Việt
Nam.” (trích Wikipedia). Hình khắc trên trống đồng cho thấy sinh hoạt thời vua Hùng, nước
Văn Lang đã có văn minh.

(2) Cần nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu thêm vì nhà Thục được mô tả như trong truyền
thuyết. Vả lại “Tượng quận” theo quan niệm mới không phảỉ nước VN ngày nay mà ở phía
tây tỉnh Quảng Tây (bấy giờ thuộc Văn Lang theo truyền thuyết). Theo “Sử Ký”  Tư Mã
Thiên, sau khi chiến tranh Hán-Nam Việt chấm dứt, vì quân Hán không qua nổi biên giới Ngũ
Lĩnh và vì Cao Hậu (cướp quyền  Hán Huệ Đế) chết sau  một năm gây chiến với Nam Việt:
“Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải  đút lót các nước Mân
Việt, Tây Âu Lạc để bắt lệ thuộc theo mình”… chứng tỏ Âu Lạc bị sát nhập vào Nam Việt
sau năm 180 TCN (Lữ Hậu chết) (Sử Ký - bản dịch tr. 733).

(3) Chữ Hán được dùng từ thời nhà Triệu (207 TCN), nhưng mãi tới năm 1075 (thời nhà Lý)
mới mở khoa thi “tam trường” đầu tiên để lấy ngưởi văn học làm quan: chọn 10 người – (Lê
Văn Thịnh thủ khoa), 1076 lập Quốc Tử Giám – 1086 mở khoa thi lấy người vào Hàn Lâm
Viện. Chữ Nôm đươc người Việt tạo ra không biết vào thời kỳ nào? Có lẽ từ thời cổ đại và
hoàn chỉnh hơn từ thời Trần Nhân Tông (1279-1293) với Nguyễn Thuyên.

Cuối TK 19 (1869): Pháp bắt dùng tiếng Quốc Ngữ (QN) thay thế chữ Nho & viết công văn.
Năm 1879: Pháp bắt dạy tiếng QN tại thôn quê Nam Kỳ. các văn kiện chính bằng QN. Gia
Định Báo là tờ báo đầu tiên ở Nam Kỳ.  
Năm 1915: thi hương cuối cùng ở Bắc. 1919: Khoa thi chữ Hán cuối cùng tại Huế. Chũ Hán
mất địa vị tại VN, chữ Nôm viết theo dạng chữ Hán cũng mờ nhạt theo.

Chữ Nôm có lẽ xuất hiện rất sớm, có thể từ thời Thần Nông trước cả chữ Hán (?)  
- Thần Nông viết theo cách nói của ngưoi Việt.  
- Người ta đào được những mai rùa rất lớn có khắc chữ. Theo Nguyễn Hiến Lê,  rùa lớn này
chỉ có ở thung lũng sông Dương Tử.  Vì chữ Nôm giống chữ Hán nên (có thể?) khi ngưòi
Hán san định lại cách viết rõ ràng và có hệ thống, chữ Nôm cổ đã biến mất dành chỗ cho
chữ Hán (?). Đến thời Bắc thuộc lần 1, một số chữ Nôm chỉ địa danh… được người Hán (lúc
đó là kẻ cai trị) dùng một số chữ trở lại. Đến đời nhà Trần (thế kỷ 13), chữ nôm mới được
phục hoạt (xen Nguyễn Thuyên).

Sau đây là tài liệu trích từ Wikipedia: “Ban đầu khi mới xuất hiện chữ Nôm thuần túy ghi âm
tiếng Việt nhưng mượn dạng chữ Hán y nguyên. Phép đó gọi là chữ "giả tá". Dần dần phép
ghép hai chữ Hán lại với nhau, một phần gợi âm, một phần gợi ý được dùng ngày càng
nhiều và có hệ thống hơn. Phép này gọi là "hài thanh" để cấu tạo chữ mới. Kể từ thời Lê về
sau số lượng sáng tác bằng chữ Nôm tăng dần trong suốt 500 năm từ thế kỷ 14 đến thế kỷ
20. Dồi dào nhất là các áng thi văn có tính cách cảm hứng, tiêu khiển, và nặng phần tình
cảm. Những tác phẩm Nôm này rất đa dạng: từ Hàn luật , đến văn tế , truyện thơ lục bát,
song thất lục bát, phú, hát nói, tuồng, chèo. Văn Nôm đã diễn tả đầy đủ mọi tình cảm của
dân tộc Việt, khi thì hào hùng, khi bi ai; khi thì trang nghiêm, khi bỡn cợt”.

Trước thế kỷ 15”
“Một số di tích còn lưu lại dấu vết chữ Nôm trước thế kỷ 15 nhưng số lượng không nhiều
ngoài vài văn bia. Tuy nhiên có thuyết cho rằng một tác phẩm quan trọng là tập Phật thuyết
đại báo phụ mẫu ân trọng kinh đã ra đời vào thời nhà Lý khoảng thế kỷ 12. Đây cũng là đặc
điểm vì tập này là văn xuôi, một thể văn ít khi dùng chữ Nôm.”

Thế kỷ 15-17”
“Thời kỳ này phần lớn thi văn lưu truyền biết tới nay là thơ Hàn luật bát cú hoặc tứ tuyệt.
Một số là trước tác cảm hứng riêng như: Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức quốc âm
thi tập (Lê Thánh Tông), Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Ngự đề hoà danh bách
vịnh (Chúa Trịnh Căn), Tứ thời khúc vịnh (Hoàng Sĩ Khải), Ngọa long cương (Đào Duy Từ);
nhưng cũng không thiếu những tác phẩm theo dạng sử ký như: Thiên Nam Minh giám,
Thiên Nam ngữ lục”.

Thế kỷ 18-19”
“Thơ Hàn luật của những thế kỷ kế tiếp càng uyển chuyển, lối dùng chữ càng tài tình, hóm
hỉnh như thơ của Hồ Xuân Hương hay Bà Huyện Thanh Quan. Ngược lại thể thơ dài như Ai
tư vãn của Ngọc Hân Công chúa cùng thể song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của
Đoàn Thị Điểm lưu danh những nữ sĩ biệt tài thời trước. Riêng Chinh phụ ngâm được xem là
một tuyệt tác, có phần trội hơn nguyên bản chữ Nho”.

“Thể song thất lục bát cũng lưu lại tác phẩm Cung oán ngâm khúc, lời văn cầu kỳ, hoa mỹ
nhưng thể thơ phổ biến nhất là truyện thơ lục bát, trong đó phải kể Truyện Kiều (Nguyễn
Du) và Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu). Văn từ truyện thơ bình dị hơn nhưng lối hành
văn và ý tứ không kém sâu sắc và khéo léo. Những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác
như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Phan Trần, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ, Ngư tiều
vấn đáp y thuật, Nữ tú tài, Tô Công phụng sứ, tất cả được phổ biến rộng rãi khiến không
mấy người Việt lại không biết vài câu, nhất là Truyện Kiều”.

“Thế kỷ 19-20”
“Thời kỳ cuối của chữ Nôm xuất hiện nhiều tác phẩm thi ca theo thể hát nói như của Nguyễn
Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương v.v. Những thể cũ song thất lục bát (Ai tư vãn của Bắc
Cung Hoàng hậu) và lục bát (các truyện Nôm) vẫn góp mặt song thêm vào đó là những vở
tuồng hoặc chèo dân gian cũng được soạn bằng chữ Nôm như Kim Thạch kỳ duyên, Quan
Âm Thị Kính”.

“Đối ngược lại tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo nhất là văn xuôi
tuy có được ghi lại bằng chữ Nôm nhưng tương đối ít. Văn vần thì có vài tác phẩm như
Thiên Nam ngữ lục (thời Hậu Lê) hay Đại Nam quốc sử diễn ca (thời Nguyễn). Song sử liệu,
nhất là chính sử cùng các văn bản hành chính của triều đình thì nhất thể đều bằng chữ Hán.
Ngoại lệ là những năm tồn tại ngắn ngủi của nhà Hồ (thế kỷ 15) và nhà Tây Sơn (thế kỷ 18).
Những văn bản hành chính như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ v.v. chỉ
đôi khi xen chữ Nôm nếu không thể tìm được một chữ Hán đồng nghĩa để chỉ các danh từ
riêng (như tên đất, tên làng, tên người), nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán Việt bởi quan
niệm chung của giới sĩ đại phu các triều đại bấy giờ thì cho là: "nôm na là cha mách qué".
Dưới triều đại nhà Tây Sơn, do sự hậu thuẫn của Quang Trung hoàng đế, toàn bộ các văn
kiện hành chính bắt buộc phải viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802. Nói
cách khác, chữ Nôm là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sử văn hoá của dân tộc trong khoảng
10 thế kỷ, mặc dù đó là công cụ còn nhiều hạn chế về mặt kỹ thuật cũng như mức phổ dụng
so với chữ Hán”.

Bài thơ “Đuổi cá sấu” của Nguyễn Thuyên:

Ngạc ngư kia hỡi mày có hay
Biển Đông rộng rãi là nơi mày
Phú Lương nay thuộc về thánh vực
Lạc lối sao mà lại tới đây?
Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa
Dân quen chài lưới chẳng tay vừa
Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy
Xuống nước giao long cũng phải chừa
Thánh hiền nối dõi bản triều nay
Dấy từ Hải ấp ngôi trời thay
Võ công lừng lẫy, bốn phương tịnh
Biển lặng sông trong mới có rày
Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy
Nhân vật đều yên đâu ở đấy
Ta vâng đế mạng bảo cho mày
Hãy vào Biển Đông mà vùng vẫy.

Bảng so sánh lịch sử hai nước Trung Quốc và Việt Nam, cho ta  thấy:
1- “Bên ta chia rẽ, Tàu sẽ xâm lăng,  Bên Tàu có loạn, ta lại vùng lên”.

2- Văn hóa Lạc Việt và văn hóa Trung Quốc cùng tiến triển song hành, mặc dù người Việt
bị Trung Quốc đô hộ hàng ngàn năm và ban đầu chưa có chữ viết (?).

3- Thơ văn chữ Nôm (sau này viết bằng chữ Quốc Ngữ) và ca dao tục ngữ được đa số dân
chúng Việt Nam sử dụng, trong đó thành phần nông dân & lao động (chiếm trên 90% dân
số),  pha rất ít tiếng Hán Việt, hoặc chỉ dùng tiếng thuần Việt. Vậy cho rằng tiềng Việt dùng
nhiều tiếng Hán Việt là không đúng đối với tất cả người Việt.

Cũng vì tiếng Việt rất phong phú, nên người Việt sinh sống tại hải ngoại và người gốc Việt
không những chỉ hãnh diện về tiếng nói, mà còn hãnh diện về văn hóa Việt có thể đồng hóa
rất nhiều người Hoa sang Việt Nam sinh sống và lập nghiệp nữa.

Tiếng Việt trong sáng.    

Trung Quốc là một nước lớn có chung đường biên giới ở phía bắc với Việt Nam.  Khi học
lịch sử Việt Nam, chúng ta thường nhắc đến lịch sử Trung Quốc. Sự liên quan giữa hai dòng
lịch sử này rất mật thiết, vì mỗi khi bên ta có nội chiến, hoặc có kẻ phản bội dân tộc sang
cầu cứu Trung Quốc can thiệp vào cuộc nội chiến này, “nước lớn” Trung Quốc  thường
“kiếm cớ” sang xâm chiếm Việt Nam. Ngược lại, khi “bên Tàu có loạn”, những anh hùng dân
tộc Việt lại được dịp vùng lên đánh đuổi quân xâm lược.

Chân lý và niềm tin: Dân tộc Việt  không bao giờ chịu khuất phục dưới ách nô lệ của
người Tàu.

Song Thuận

Tài liệu tham khảo:
- Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim - Nhà XB miền nam.
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Nhà XB Khoa Học Xã Hội
- Sử Trung Quốc - Nguyễn Hiền Lê - Nhà XB Văn Nghệ
- Tài liệu trên internet & Wikipedia.
                   
Thơ

Vua Hùng Dựng Nước

Vua Hùng dựng nước Văn Lang
Năm ngàn năm trước, huy hoàng trời Đông
Giang san một dải mênh mông
Bắc phương Hán tộc, Nam phương Lạc Hồng
Động Đình là ải biên cương
Phía Tây Ba Thục, tiếp dòng Trường Sơn!
Phía Nam giáp với Hồ Tôn
Nhìn ra Nam Hải, sóng dâng vơi đầy…
Bộ tộc Lạc Việt anh tài
Mình xâm rồng rắn khiếp loài kình ngư
Phong Châu là chốn kinh đô
Lạc Hầu, Lạc Tướng giúp vua trị vì
Các quan Bồ Chính, trưởng chi
Coi sóc làng xóm, vỗ về Lạc dân
Thuở còn trời đất hỗn mang
Nhà sàn ta ở, sống gần văn minh!
Cha truyền con nối yên bình
Chính trị "phụ đạo", dân tình thuần lương.
Hoàng Tử tên gọi Quan Lang
Mị Nương: công chúa, cành vàng ngày xưa
Hồng Bàng là họ nhà vua
Hăm sáu thế kỷ (2622 năm)
Trải qua hai mươi đời.
Thuần phong mỹ tục sáng ngời
Tổ Tiên: thờ phụng, Đạo Trời: niềm tin.
Đời đời tiết liệt trung trinh
Tinh thần bất khuất, đấu tranh chẳng sờn!

Ông cha dựng nước oai hùng
Cháu con hãnh diện, dốc lòng biết ơn
Ai ơi! Uống nước nhớ nguồn
Ăn quả nhớ kẻ vun trồng nên cây!

Vương Sinh
______________________________________________________

Thơ Xướng Họa: Giỗ Tổ Hùng Vương

Công Đức Quốc Tổ

Quốc Tổ Hùng Vương dựng nghiệp nhà
Văn Lang truyền thuyết nước Nam ta
Phong Châu tên gọi kinh thành cũ
Ngũ Lĩnh là nơi biên ải xa
Thắt nút trị dân thời bình trị
Vung gươm đánh giặc lúc can qua
Tổ Tiên giữ nước bao công sức
Con cháu chung lòng kiến quốc gia
Vương Sinh

Nhớ ngày Giỗ Tổ

Mỗi Giỗ ta đau, nhớ đất Nhà
Việt gian bán nước nước Nam ta
Danh lam Bản Dốc đâu còn nữa
Cửa ải Nam Quan biến mất xa
Thắt họng hại dân, trời chứng kiến
Bạo quyền phản Tổ, đất coi qua
“Tổ tiên giữ nước bao công sức”
Một thoáng tan tành nát quốc gia.
Anh Tú

Giỗ Tổ

Giỗ Tổ Hùng Vương khắp mọi nhà
Hướng về tưởng nhớ một lòng ta
Trầm khơi thơm toả Ba Vì ngát
Nến thắp sáng soi Tam Đảo xa
Cho giống anh hùng truyền thụ lại
Để nòi bất khuất kế thừa qua
Ảo huyền Nghĩa Lĩnh non thần đó!
Một chốn linh thiêng dựng thế gia
Sơn Khê

____________________________________________________________

Thơ


(Thơ Đường Luật chắp lại từ nhiều câu thơ của nhiều tác giả)

“Chim Lạc bay ra khỏi trống đồng
Năm châu góp mặt giống Tiên Long” (VS)
“Tha hương khôn thể quên Hùng Sử” (SK)
“Viễn xứ vẫn hoài nhớ núi sông” (NS)
“Học hỏi quê người cha mẹ muốn”
“Thành công hải ngoại giống nòi mong” (VS)
“Nghìn năm vang tiếng người dân Việt
Tuổi trẻ kiêu hùng rạng ánh Đông ...” (NS)
VS, SK, NS
(trích nội dung từ http://www.hungsuviet.us)
Lịch sử Trung Quốc

Cổ Đại

Tam Hoàng, Ngũ Đế*

Nghiêu, Thuấn, Vũ-
Nhà Hạ
(2205–1767 TCN ?)


Nhà Ân-Thương
(1766-1122 TCN)
Văn minh đồ đồng
(1700 TCN) (1a)
Chữ Hán
Nhà Chu  1122–256 TCN

Nhà Tây Chu
Nhà Đông Chu

Xuân  Thu
(722-481 TCN)
Kỹ thuật luyện sắt
Chiến Quốc (481-221 TCN)


Trung Đại

Nhà Tần (221-206 TCN)
Nhà Hán (206 TCN-220)

Nhà Tây Hán (206-9)
Nhà Tân (Vương Mãng)
(9 TCN-25)
Nhà Đông Hán (25-220)
Tam Quốc (220-280)

Ngụy, Thục & Đông Ngô

Nhà Tấn (265-420)
Nhà Tây Tấn
Nhà Đông Tấn
Nam Bắc Triều
(420-589)
Nhà Lương (502-557)

Nhà Tùy (581-619)





Cận Đại

Nhà Đường (618-907)

Ngũ Đại - thập quốc
(907-960)

Nam Hán
Nhà Tống
(960-1279)
Bắc Tống
Nam Tống


Nhà Nguyên (Mông Cổ)
(1271-1368)



Nhà Minh (1368-1644)













Nhà Thanh (Mãn Châu)
(1644-1911)











Hiện Đại

Trung Hoa Dân Quốc
(1912-nay)

(
Đài Loan: 1949 – nay)


Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc
(Trung Cộng)
(1949 – nay)
Lịch Sử Việt Nam
Bảng so sánh lịsh sử Trung Quốc &
lịch sử Việt Nam