Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Thông Báo

V/V Tổ Chức Văn Nghệ Ca Vịnh 5 vị Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam có công đánh đuổi
Ngoại Xâm

Nhân dịp Tưởng Niệm 5 vị Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam có  công đánh đuổi ngoại xâm, Câu
Lạc Bộ Hùng Sử Việt sẽ phối hợp với Hội Đền Hùng Hải Ngoại, Ban Đại Diện Các Trung Tâm
Việt Ngữ và một số Trường Việt Ngữ, Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi, Ban Vũ  Dân Tộc Lạc
Hồng, Ca Đoàn Áo Xanh, Ban Tù Ca Xuân Điềm, Ca Đoàn Dược Khoa 75,  Ban Văn Nghệ &
Ban Kịch Hùng Sử Việt...
đề cùng tổ chức buổi Văn Nghệ Ca Vịnh 5 vị Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam sau đây:

1-
Nguyễn Trãi (1380-1442) : ngày kỷ niệm 16 tháng 8 âm lịch (Sept.15, 2008)
2-
Hưng Đạo Vương (1226-1300):  ngày kỷ niệm 20 tháng 8 âm lịch (Sept.19, 2008)
3-
Lê Lai (? - ?): ngày kỷ niệm 21 tháng 8 âm lịch (Sept. 20, 2008).
4-
Lê Lợi (1428-1433): ngày kỷ niệm 22 tháng 8 âm lịch (Sept. 21, 2008)
5-
Nguyễn Trung Trực (1837-1868): ngày kỷ niệm 28 tháng 8 âm lịch (Sept.27, 2008)

Địa điểm: : Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông
Ngày, giờ: Thứ  Bảy 20 tháng 9 năm 2008, từ 2:00 PM đến 5:00 PM
Vào cửa tự do

Bác sĩ Nguyễn Thị Nhuận, Giám đốc Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi đã đồng ý cho mượn Hội
Trường Viễn Đông miễn phí để tổ chức trình diễn.
Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt sẽ lo phần chi phí Ban Nhạc và nước uống cho buổi trình diễn.
Mổi Ban Văn Nghệ sẽ trình diễn 2 tiết mục, ưu tiên Nhạc Quê Hương & Hùng Sử Ca

Một phiên họp phối hợp tổ chức, soạn thảo chương trình chi tiết, quảng bá tin tức trên truyền
thanh, truyền hình và báo chí...sẽ thông báo sau.
Muốn biết thêm chi tiết về buổi Văn Nghệ nêu trên, xin quí vị và quí anh chị liên lạc về:
Song
Thuận ĐT. (949) 786 – 6840, hoặc email webmaster@hungsuviet.com

Kính mời vào www.hungsuviet.us  để cùng phổ biến, đóng góp ý kiến và bài vở về  Văn
Hóa & Lịch Sử  Việt Nam.

Trân trọng,
Song Thuận (CEO) CLB/HSV

       Tiểu sử 5 vị Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam


20 tháng 9 năm 2008 (20 tháng 8 âm lịch)

Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt tưởng niệm 5 vị anh hùng dân Tộc

















                                      1- Nguyễn Trãi (1380-1442)

Nguyễn Trãi
hiệu Ức Trai, cháu ngoại Tư Đồ Trần Nguyên Đán (Tôn Thất nhà Trần) là con
ông Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh, người làng Nhị Khê (Hà Đông).

Nguyễn Trãi thi đậu Thái Học Sinh (Tiến sĩ) đời nhà Hồ lúc 20 tuổi,  giữ chức Ngự Sử Đài.
Năm 1407 giặc Minh xâm lăng, bắt giải ông Nguyễn Phi Khanh về Kim Lăng. Nguyễn Trãi
theo cha đến ải Nam Quan.  Nguyễn Phi Khanh khuyên: “Con hãy trở về lo trả thù cho cha,
rửa hờn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?” Vâng lời cha, Nguyễn Trãi trở về bị  
quân Tàu giam lỏng ở phía Nam thành Đông Đô (Thăng Long). Năm 1420, Bình Định Vương
về đóng ở Lỗi Giang, Nguyễn Trãi dâng bài sách Bình Ngô, và được tin dùng làm tham mưu,
đã giúp Bình Định Vương đánh đuổi giặc Minh ra ngoài bờ cõi.

Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi, Nguyễn Trãi là đệ nhất Công thần đứng đầu bên quan văn, được
mang họ vua tức Lê Trãi, và được phong tước Quan Phục Hầu. Sau khi vua Lê Thái Tổ mất,
Nguyễn Trãi bị gian thần gièm pha, nên xin về trí sĩ ở Côn Sơn, Chí Linh (Hải Dương).
Năm 1442 vua Lê Thái Tông đi duyệt binh, ghé qua Côn Sơn thăm ông, thấy người thiếp (vợ
thứ) là Nguyễn Thị Lộ có tài sắc, bèn bắt theo hầu. Đến huyện Gia Định (Nay là huyện Gia
Bình, Bắc Ninh) vua nghỉ đêm tại vườn vải (Lệ Chi Viên) thì mất. Gian thần trong triều khép
tội Nguyễn Thị Lộ giết vua, bắt Nguyễn Trãi và cả ba họ hành hình. Ông mất ngày 16 tháng
8 âm lịch  (19 tháng 9 năm 1442), thọ 62 tuổi, đền thờ tại làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc
, tỉnh Hà Đông (nay thuộc tỉnh Hà Tây).

Nguyễn Trãi là một đại danh thần, cũng là một nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Tác phẩm của
ông viết bằng chữ Nôm và chữ Hán rất giá trị, như Bình Ngô Đại Cáo, Gia Huấn Ca, Quốc Âm
Thi Tập, Quân Trung Từ Mệnh Tập, Ức Trai Dư Địa Chí, Ức Trai Di Tập, Ngọc Đường Di
Cảo...

Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), Nguyễn Trãi được minh oan và được truy phong
là Tế Văn Hầu. Các con ông còn sống sót như Nguyễn Anh Võ, Tô Giám, Tô Kiên... đều
được trọng dụng.

Ức Trai Tiên Sinh

Nam Quan tiễn biệt, bóng chiều sa,
Thương nước điêu linh, xót phận nhà!
Nuốt lệ, quay về lo nợ nước,
Ngậm hờn, ngoảnh lại nhớ thù cha.
Quyết đem đại nghĩa: hung tàn, diệt!
Thề lấy lòng nhân: bại tặc, tha!
Công đức bình Ngô, trung với Chúa
Ức Trai danh vọng khắp gần xa.
Vương Sinh















                                      Hưng Đạo Vương (hình trên Internet)

2- Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1226-1300)

Hưng Đạo Đại Vương tên thật là Trần Quốc Tuấn, con An Sinh Vương Trần Liễu, cháu vua
Trần Thái Tông (Trần Cảnh), người làng Tức Mặc (Nam Định), văn võ đều giỏi, là một trong
những danh tướng có tài đặc biệt chỉ huy quân sự vào bậc nhất trên thế giới. Năm 1284
Hưng Đạo Vương được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết Chế tổng chỉ huy quân lực thủy
bộ để chống lại nửa triệu quân Nguyên Mông do Thái Tử Thoát Hoan cầm đầu xâm lăng Đại
Việt (tháng 12 Giáp Thân – 1284)

Lúc ban đầu thế giặc còn rất mạnh, vua Trần lo ngại muốn tạm hàng, nhưng Trần Hưng Đạo
đã khảng khái nói: “Bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước đã”.

Trong cả 2 cuộc đại chiến quan trọng chống quân Nguyên Mông xâm lược, Hưng Đạo Vương
đều chiến thắng, nổi tiếng nhất về các trận Hàm Tử (tháng 4 Ất Dậu - 1285) Chương Dương
(cùng tháng), Tây Kết (tháng 5 Ất Dậu – 1285), Vạn Kiếp (tháng 6 Ất Dậu – 1285), Vân Đồn
(Quân Nguyên xâm lăng lần 2 – 1287) và Bạch Đằng Giang (tháng 3 Mậu Tí - 1288).
Tác phẩm của Hưng Đạo Vương gồm có bài hùng văn “Hịch Tướng Sĩ”, “Binh Thư Yếu Lược”
và “Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư”

Hưng Đạo Vương trước sau một lòng vì nước, gạt bỏ tị hiềm riêng, là một vị thánh của dân
tộc Việt. Thái Sư Hưng Đạo Đại Vương mất vào ngày 20 tháng 8 âm lịch (1300), thọ 74 tuổi.
Hiện nay có đền thờ ở Vạn Kiếp (gọi là đền Kiếp Bạc tại làng Vạn Yên, huyện Chí Linh, tỉnh
Hải Dương.)

Vịnh Trần Hưng Đạo

Vì nghĩa gạt qua những tị hiềm*
Quốc thù chung khắp, phải đâu riêng.
Chuyện nhà xếp lại, sau phân giải,
Việc nước chia ra, gánh trước tiên!
Lăng miếu chẳng còn, tròng lệ thuộc,
Gia tiên cũng mất, ách gông xiềng!
Lòng trung vằng vặc như trăng tỏ,
Gậy sắt nghi ngờ, há giữ nguyên!
Vương Sinh

* Cha của Hưng Đạo Vương là An Sinh Vương vốn có hiềm khích với Trần Thủ Độ, nên trước
khi mất ông đã dặn con phải lấy thiên hạ, trả thù nhà. Khi phò Vua đánh giặc, Trần Hưng
Đạo thường mang theo cây gậy bọc sắt nhọn. Nhưng khi nghe tiếng đồn không tốt, Hưng
Đạo Vương đã bỏ vứt bỏ gậy sắt nhọn để tránh tiếng nghi ngờ và tạo sự đoàn kết.  














                                    Lê Lai cứu chúa (hình LLGKT)

3- Lê Lai (? - ?)

Danh tướng, quê huyện Thụy Nguyên, Thanh Hóa, không rõ năm sinh, năm mất. Thân phụ
ông tên Kiều, làm phụ đạo đất Lam Sơn, sinh hai trai, ông là con thứ. Năm 1416, ông tham
dự hội thề Lũng Nhai cùng Lê Lợi và khoảng 30 vị tướng sĩ, được Lê Lợi trao chức Đô Tổng
Quản, tước Quan Nội Hầu. Khi Lê Lợi và binh tướng bị vây khốn, ông Lê Lai đã khẳng khái
nhận khoác áo bào giả làm Lê Lợi để giặc Minh bắt giết, cứu chúa và toàn bộ tham mưu.
Nhớ ơn này, khi lên làm vua, Lê Lợi đã truy phong ông là Trung Túc Vương và đặc biệt ngày
giỗ của ông (không biết đích xác ngày ông mất) được định trước ngày giỗ vua Lê Lợi một
ngày, vì thế dân gian có câu: “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” (vua Lê Lợi mất vào ngày 22
tháng 8 âm lịch, năm Quí Sửu tức 1433).

Hành động “cứu chúa” của danh tướng Lê Lai là một hành động can đảm, hy sinh vì chánh
nghĩa. Đây không phải là một hành động “liều lĩnh” vì ông đã biết trước sự việc sẽ xẩy ra,
cũng như số phận dành cho mình. Ông quyết định hy sinh cùng với 500 nghĩa binh dưới
quyền để cứu vãn tình hình rất nghiêm trọng trong cuộc kháng chiến: cứu vị lãnh tụ tối cao
Bình Định Vương Lê Lợi cùng toàn bộ tham mưu Lam Sơn. Nhờ sự hy sinh của ông và của
500 nghĩa binh vô danh, cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược đã thành công.

Nhớ ơn Lê Lai, ta không quên ơn 500 nghĩa binh vô danh đã cùng hy sinh với ông...

Vịnh Lê  Lai

Giúp nước đâu nề chuyện tử sinh
Liều thân cứu Chúa, cứu dân mình.
Khoác bào, quyết giải vòng vây địch  
Chích máu, thề theo cuộc kháng Minh
Kỷ Tín, lừng danh trang nghĩa dũng  
Lê Lai, vang tiếng đấng anh linh
Bình Ngô, đại thắng ghi công trạng
Ngày giỗ trên vua, rõ hậu tình!
Vương Sinh



















                                                 Tượng vua Lê Lợi (hình trên Internet)

                                                  Lê Lợi (1385-1433)

Lê Lợi là con út trong gia đình, cha là Lê Khoáng, mẹ là Trịnh Thị Ngọc Hương, người đất
Lam Sơn (chúa trại Lam Sơn), Thanh Hóa.
Năm 1407, các tướng Minh là Trương Phụ, Mộc Thạnh, Liễu Thăng đánh thắng họ Hồ (Hồ
Quí Ly), bắt tất cả sang Tàu giam giữ và chia nước Nam thành 17 phủ để cai trị. Những vị
vua nhà Hậu Trần như Giản Định Đế (1407-1409), Trần Quí Khoách (1403-1413) nổi lên
kháng Minh, nhưng cũng bị thua. Nước Nam bị lệ thuộc nhà Minh hơn 10 năm (1414-1427).

Năm 1418, Lê Lợi được tôn làm Bình Định Vương, đã cùng các tướng và nghĩa quân phất cờ
khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Ông phải kiên nhẫn chiến đấu gian khổ, hy sinh cả gia đình vợ
con, suốt 10 năm (1418-1427) mới đánh đuổi được hết quân Minh ra ngoài bờ cõi.
Lê Lợi là một vị anh hùng cứu tinh dân tộc Việt, lên ngôi vua năm 1428, sáng lập ra nhà Lê
và sai Nguyễn Trãi viết bài “Bình Ngô Đại Cáo”. Vua Lê Lợi tức Lê Thái Tổ (1428-1433) làm
vua được 6 năm, mất ngày 22 tháng 8 quí sửu âm lịch (1433), thọ 49 tuổi, điện thờ tại Vĩnh
Lăng (Lam Sơn).

Vịnh anh hùng áo vải Lam Sơn

Nằm gai nếm mật đủ mười năm
Đánh đuổi giặc Minh, hạ quyết tâm.
Quang phục Quê Hương, trừ nội loạn
Thu hồi Đất Tổ, diệt xâm lăng
“Trí nhân thắp sáng thay cường nghịch”
“Đại nghĩa nêu cao thắng bạo tàn”
Lê Lợi anh hùng trang huyết sử
Cờ vàng lưu dấu núi non Lam!
Vương Sinh


















                                         Nguyễn Trung Trực (1837-1868)

Anh hùng Nguyễn Trung Trực lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp tại Tân An (Long An)
và Rạch Giá (Kiên Giang). Trưa ngày 10 tháng 12 năm 1861, ông cùng một số chiến hữu tổ
chức phục kích đốt tàu L’Espérance của Pháp trên sông Vàm Nhật Tảo. Ông tiếp tục chiến
đấu chống Pháp tại  Gia Định, Biên Hòa. Năm 1862 ông được phong  chức Lãnh Binh. Năm
1867 ông được  phong chức Hà Tiên Thành Thủ Ủy giữ đất Hà Tiên. Khi Hà Tiên thất thủ,
ông ra Phú Quốc lập căn cứ chống Pháp. Ông bị bắt tháng 10 năm 1868, nhưng cương
quyết không đầu hàng giặc.

Ngày 27 tháng 10 năm 1868 (28-8 Nhâm Tuất) quân Pháp đem ông ra chém tại Kiên Giang
(chợ Rạch Giá). Ông hưởng dương 31 tuổi. Hiện nay tại tỉnh Kiên Giang (đền thờ tại Rạch
Giá), dân chúng nhớ công ơn ông, hàng năm mở lễ hội tưởng niệm rất lớn vào các ngày 27,
28, 29 tháng 8 âm lịch. (Tại An Giang - huyện Chợ Mới,  cũng có đền thờ và lễ hội.)

Trước lúc hy sinh, anh hùng Nguyễn Trung Trực đã tuyên bố: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam
thì mới hết người Nam đánh Tây”
“Thế rồi lưỡi dao Đao thủ phủ  chém xuống. Đầu Ngài rơi nhưng hai tay của Ngài đưa lên
hứng lấy đặt ngay chỗ cũ, hai mắt của ngài vẫn trừng trừng sáng quắc làm cho ai nấy cũng
phải kinh hoàng thán phục ."

Nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt điếu bài thơ nổi tiếng như sau:

Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỉ thần
Anh hùng cường cánh phương danh thọ
Tu sát đê đầu úy tử nhân.

Bản dịch:
Lửa hồng Nhựt Tảo vang trời đất
Gươm lóe Kiên Giang rúng quỉ thần
Ngẩng cổ anh hùng danh thọ mãi,
Cúi đầu thẹn chết lũ phi nhân.