Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
                            
                        




















                                
Ngô Quyền (898-944)

Người làng Đường Lâm (Hà Tây),  là một  anh hùng trung dũng: trong trả được thù
nhà, ngoài diệt được ngoại xâm. Ngô Quyền là người đầu tiên dùng mưu cắm cọc
nhọn trên sông Bạch Đằng, vận dụng thủy triều lên xuống để phục kích, đánh tan
quân Nam Hán do Thái tử  Hoàng Thao chỉ huy xâm lăng năm 938. Chiến thắng này
đã giải thoát nước Nam khỏi vòng nô lệ gần một ngàn năm. Ngô Quyền xưng Vương
năm 939, đóng đô ở Cổ Loa (Phúc Yên), xây dựng nền móng cho một quốc gia độc
lập: đặt quan chức, chế triều nghi, và chỉnh đốn chính trị. Ngô Vương Quyền làm
vua được 6 năm, thọ 47 tuổi, truyền 2 đời  vua, kéo dài 26 năm.

                                  Ngo Quyen (898-944)

A brilliant strategist in the early history of a nascent Viet nation, originated from Duong Lam
village, Ha Tay province. He was best known for turning into military advantage of the large
difference between the tides found at Bach Dang River, a strategic waterway bisecting the
Red River Delta in the heartland of northern Viet Nam.  In 938, Ngo Quyen directed Viet
soldiers to plant spikes in the riverbed, then at low tide ambushed and decimated the South
Han army of prince Hoang Thao; the Han troop transport boats were haplessly impaled.  
This decisive victory liberated Viet lands after one thousand years under ruthless Chinese
colonialism.  Ascending to the throne in 939,
King Ngo Quyen built the capital citadel Co Loa in Phuc Yen province; established foundation
for an independent Viet nation including government ministries and appointed officials; set
royal court protocols to govern the new country.  Six years later, Ngo Quyen died at age 47
and was succeed by his son.  Together, the 2 generations of the Ngo Dynasty governed for
26 years.































          








                
                  Lê Hoàn (941-1005)

Người Ai Châu (Thanh Hóa),  làm quan Thập Đạo Tướng Quân đời nhà Đinh. Để đối
phó với quân Tống xâm lăng trong khi vua nối ngôi Đinh Tuệ còn nhỏ, tướng sỹ và
triều thần cùng tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức Đại Hành Hoàng Đế , với sự đồng
thuận  của Thái hậu Dương Vân Nga. Lê Đại Hành có công phá Tống, do Hầu Nhân
Bảo chỉ huy ở Chi Lăng ( 981), đặt ra luật lệ, huấn luyện quân lính, sửa sang mọi việc
trong nước, bình định được Chiêm Thành,  dẹp yên 49 động Hà Man  cùng giặc giã
khắp nơi, giữ vững nền độc lập nước nhà, và bảo toàn được lãnh thổ. Vua Lê Đại
Hành mất năm 1005, làm vua 24 năm, thọ 65 tuổi, truyền 3 đời vua trong 29 năm.

                                        Lê Hoàn (941-1005)

originated from Ai Chau district, Thanh Hoa province, rose to the top military rank of
Commanding General of Ten Armies in the Dinh Dynasty, then became king in a
controversy.  Facing invasion by Chinese Sung dynasty army, while Dinh Tue emperor was
still a child, military commanders collaborated with royal courtiers, allegedly with consent from
Duong Van Nga, the emperor’s mother, forced Dinh Tue to cede the throne to Le Hoan who
also married to Duong Van Nga.  Proclaiming himself Emperor of Great Travails, Le Hoan
destroyed the Sung army, assisted by general Hau Nhan Bao who led Viet troops in a
decisive victory in 981 at Chi Lang Pass, now Lang Son province.  The new emperor was
credited with maintaining the country’s independence and sovereignty;
safeguarding territorial integrity through sound governance and philosophy; established rules
and laws; improved military readiness through rigorous trainings and maneuvers;
consolidated government functions and services; pacified the restive Champa Kingdom in the
south; suppressed lawless banditry at the 49 caves in Ha Man district and elsewhere.  
Emperor Le ruled 24 years until his death in 1005 at age 65.  The Anterior Le Dynasty
governed in 29 years through 3 successive generations.


































                     Lý Thường Kiệt (1019-1105)

Tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, người làng An Xá (Hà Nội), làm quan trải qua 3
đời vua nhà Lý. Năm 1075, Lý Thường Kiệt  cùng với tướng Tôn Đản đem quân sang
đánh chiếm châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông) và châu Ung (Quảng Tậy), phá hủy
tiềm lực chiến tranh xâm lăng của địch. Năm 1076 quân Tống sang đánh nước ta, Lý
Thường Kiệt được lệnh mang quận chặn địch tại sông Như Nguyệt (sông Cầu ở Bắc
Ninh). Để khuyến khích tinh thần tướng sĩ, Lý Thường Kiệt đã làm 4 câu thơ bất hủ,
được coi như tuyên ngôn độc lập của nước Nam thời bấy giờ:
“Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Danh tướng Lý Thường Kiệt có công phá Tống bình Chiêm. Ông mất tháng 6 năm ấát
dậu (1105), thọ 87 tuổi, được phong tước Việt Quốc Công.   

                           Ly Thuong Kiet (1019-1105)

Actually was Ngo Tuan, aka Thuong Kiet, originated from An Xa village in the vicinity of Ha
Noi; adapted the Ly royal surname as an honor for his royal court services through 3
consecutive emperors of the Ly Dynasty.  In 1075, General Ly Thuong Kiet, with General
Ton Dan led a Viet expeditionary force, in a rare reversal role for Viet Nam, briefly occupied
bordering China territories, particularly the Kham and Liem districts of Guangdong province
and Ung district of Guangxi province.  This campaign was brilliant for its strategic goal to
diminish the enemy’s capacity and deny it an invasion launching pad. In retaliation, the
Chinese Sung army invaded Viet Nam in 1076.  Ly Thuong Kiet orchestrated the defensive
effort, setting up his command headquarters at Nhu Nguyet River, commonly
The poem, resounding with courage and intrepidity, was tantamount to a Declaration of
Independence for Viet Nam, restored and uplifted the Viet indomitable spirit and contributed
greatly to the ensuing eradication of the Sung army.

A national hero, Generalissimo Ly Thuong Kiet not only destroyed the Sung invaders, but
also served as a catalyst for expanding Viet territory southwards by pacifying the restive
Champa Kingdom.  In the sixth month of the Year of the Rooster, AD 1105, Generalissimo Ly
was 87 at death and was posthumously canonized to the revered status of Protector of Viet
Nation

                               Trần Hưng Đạo (?-1300)













Tên thật là Trần Quốc Tuấn, người làng Tức Măïc, phủ Thiên Trường (Nam Định), có
công soạn thảo “Binh Thư Yếu Lược”, viết bản hùng văn ”Hịch Tướng Sỹ”, và làm
tiết chế đánh đuổi cả thẩy hơn 800 ngàn quân Nguyên Mông trong ba lần xâm lược
nước Nam ở thế kỷ 13. Áp dụng chiến thuật của Ngô Quyền, cắm  cọc nhọn trên
sông Bạch Đằng và phục kích đánh đắm chiến thuyền địch, Trần Hưng Đạo đã chiến
thắng lẫy lừng quân Nguyên Mông do Ô Mã Nhi chỉ huy dưới quyền Thoát Hoan
trong lần xâm lăng lần thứ ba, đập tan mộng xâm lăng của Nguyên triều. Danh tướng
Hưng Đạo Đại Vương mất ngày 20 tháng tám năm Canh Tí (1300), thọ khoảng 70 tuổi.

                                 Trần Hưng Đạo (?-1300)

Whose real name was Tran Quoc Tuan, originated from Tuc Mac village, city of Thien Tuong
or Nam Dinh contemporarily.  He authored the legendary “Military Strategies in Review” and
the historically famous war document “A Challenge to Officers and Soldiers” that  exhorted
patriotism and the virtue of noble sacrifice in battles.
Commander-in-chief Tran masterminded the strategies to defeat a combined invading force
of 800,000 troops of Mongol Yuan dynasty (who had earlier invaded and occupied China) in
three successive epic battles fought over Viet soils in the 13th century.  In the third invasion,
true to his nature of warfare historian, Generalissimo Tran perfected the riverine naval tactics
of planting spikes in the Bach Dang riverbed that was brilliantly invented by
Ngo Quyen 350 years earlier, smashed the Yuan fleet, captured Yuan general O Ma Nhi
while the Yuan prince Thoat Hoan hastily escaped in humiliation without his royal seals and
credentials.  With three devastating and decisive defeats, as long as the legendary General
Tran was alive, the Mongols had to set aside their wounded pride and failed dream of
dominating Viet Nam.  For his great deeds, General Tran was bestowed the royal title of
Grand Regality of Renaissance Doctrines.  He passed away peacefully on the twentieth day
of the eighth month in the Year of the Mouse (AD 1300) at about 70, since his birth year was
still a mystery

                                   Lê Lợi  (1385-1433)

Người làng Lam Sơn (Thanh Hóa), xuất thân từ nghề nông. Năm 1418, Lê Lợi tự xưng
là Bình Định Vương, cùng với tướng sỹ phất cờ khởi nghĩa ở núi Lam Sơn, gian khổ
trong 10 năm đánh đuổi được quân  Minh xâm lăng ra ngoài bờ cõi. Năm 1428 Bình
Định Vương Lê Lợi lên ngôi tức vua Lê Thái Tổ (1428-1488), giữ quốc hiệu Đại Việt,
sửa sang việc cai trị, quân sự , học hành và đặt ra luật lệ mới. Lại định ra phép quân
điền, lấy đất công chia cho mọi người, khiến sự giàu nghèo ít bị chênh lệch. Về
quân sự, cho binh lính giải ngũ bớt,  chia 1 phiên lưu ban, 4 phiên về làm ruộng. Lê
Lợi làm vua được 6 năm thì mất (1433), thọ 49 tuổi, truyền được 10 đời vua trong 100
năm, mở mang bờ cõi thêm về phía Nam, sửa sang thuế khóa, xã hội, phong tục, mở
mang văn học, viết Đại Việt Sử Ký, vẽ Địa đồ... đất nước được cường thịnh,

                                    Lê Lợi  (1385-1433)

One of the most famous heroes in Viet Nam illustrious anti-Chinese invasion saga was Le Loi
who rose to prominence from a humble origin as a farmer from Lam Son, a mountainous
region of northern Central Viet Nam in Thanh Hoa province.  In 1418, Le Loi proclaimed
himself King of Peace and Harmony, spearheaded guerilla warfare in the form of a national
resistance movement against the occupying Ming army.  He and dedicated followers
prevailed after 10 long years of sacrificial hardship, culminating in the total defeat of the Ming
army and subsequently his ascendance to the throne in 1428 as the Founding Emperor of
the Posterior Le Dynasty.  As a subtle but defiant warning to China, the emperor decreed the
newly independent country should retain the name Grand Viet, then promptly established
government ministries; strengthened national defense; initiated measures to improve
education; and decreed new laws.  To improve the agrarian based economy and alleviate the
societal issue of wealth disparity, emperor Le redistributed public lands to peasant farmers.  
To maintain a sustainable military, he organized the army into one-fourth regulars and three-
fourth reservists who served in agricultural communes.  Emperor Le was 49 at his death in
1433, only after 6 short years in power.  However, he had laid a solid foundation on which the
Posterior Le Dynasty governed for 100 years spanning 10 generations.  During this
prosperous era, Grand Viet territory was steadily expanded southwards.  The country’s
prosperity was evidenced in its improved systems of taxation and social welfare.  Its cultural
heritage was enriched with important publications, notably the Grand Viet Historical
Chronicles and Cartography.























                             Nguyễn Huệ (1753-1792)  

Cùng anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, dấy binh ở ấp Tây Sơn (Qui Nhơn) vào năm
1771 (nên sử gọi là Nguyễn Tây Sơn).  Nguyễn Huệ có công đánh đuổi  quân Tiêm La
ở miền Nam (1784), và dẹp tan quân Chúa Trịnh ở miền Bắc (1786), mở đầu cho việc
thống nhất nước Nam sau nhiều năm chiến tranh. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên
ngôi Hoàng Đế năm 1788, lấy hiệu là Quang Trung, đại phá 200 ngàn quân Thanh
xâm lăng do Tôn Sỹ Nghị cầm đầu, với chiến thắng Đống Đa ngày 5 Tết kỷ dậu
(1789). Vua Quang Trung là một ông vua anh dũng, có đức độ,  trọng hiền tài, cải
cách việc chính trị trong nước, đặt lại quan chế, dùng chữ nôm trong việc học
hành, sửa đổi việc đinh điền, quân sự ... Vua Quang Trung làm vua 4 năm, mất năm
1792  thọ 40 tuổi, truyền 2 đời vua trong 14 năm.

                             Nguyễn Huệ (1753-1792)

With older brother Nguyen Nhac and younger brother Nguyen Lu, in 1771, from a base in
Tay Son in Qui Nhon province, started a successful rebellion against Lord Nguyen who was
ruling southern Viet territory opposing Lord Trinh in the north.  Due to that origin, Nguyen
Hue was known also as Nguyen Tay Son.  A brilliant strategist and great leader, Nguyen Hue
pacified Khmer and Siam insurgencies in the South (1784) then destroyed the army of Lord
Trinh (1786) to unify Viet lands after ruinous decades of North-South fratricide warfare.  For
this achievement, Nguyen Hue was revered as King of Pacifying the North.  Ascending to the
throne in 1788, Nguyen Hue proclaimed himself Emperor of Central Luminosity.  The
emperor was forever revered for the lightning speed in his dispatching with
ease a superior invading force of 200,000 soldiers of the Qing army commanded by Ton Si
Nghi, at Dong Da Hill on the outskirts of Ha Noi, on the fifth day of the New Year of the
Rooster (AD 1789).  Nguyen Hue was famous not only for his legendary military exploits but
also for his political savvy in governance and sage-like leadership quality.  He was credited
with royal practices that encouraged talented people to enter public services; streamlined
career paths and ranks for government officials; officially recognized the Vietnamese dialect
No^m as the national written language in education; established priority in a national draft
system to improve military readiness.  Historians lamented the brief meteoric Light at the
Center for the emperor reigned in all but 4 short years.  Nguyen Hue died at age 40 in 1792.  
The Quang Trung Dynasty governed for 14 years through 2 generations.  
(English by Mr. Hung Nguyen)       
Xin click vào hình để đọc tiểu sử các vị
Anh hùng, Anh thư  Việt Nam
Bất Khuất
Ấn bản điện tử
Kịch Bản Bi Hùng Dã Sử
Việt Nam
Selected Skits of Heroic
Legends
in Vietnamese History
Bà Ba Đề Thám (cuối thế kỷ 19):

Bà tên thật là Đặng Thị Nhu (còn có tên là Đặng Thị Nho tức Bà Ba Cẩn), vợ thứ ba của
nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám (Đề Thám). Bà là một nữ tướng rất can trường, cùng sát
cánh với chồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại Yên Thế cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ
20.

Ngày 1-2-1909, bà và con gái  là Hoàng Thị Thế bị Pháp bắt và đầy đi Guyanne thuộc
Pháp ở Nam Mỹ. Tương truyền, trên đường lưu đầy, bà Ba Đề Thám đã nhẩy xuống biển
tự tận,  noi gương bất khuất của Bà Trưng, Bà Triệu.
Mẹ Dặn Con

Con hãy hiên ngang giữ nếp nhà
Ngẩng đầu nhận diện kẻ thù cha
Mẹ thân tù tội không nao núng
Con phận lưu đầy, thật xót xa!
Hãy nhớ mối hờn quân Pháp đến
Đừng quên nỗi hận giặc Tàu qua
Tại sao mình phải luôn tranh đấu?
Bởi lũ xâm lăng cướp nước ta!
Vương Sinh
Thừa Tướng Lữ Gia (Tranh Ngô Đình Chương)
Phù Đổng Thiên Vương ( Tranh ViVi)
Ngô Vương Quyền đánh giặc Nam Hán (tranh ViVi)
Danh tướng Trần Bình Trọng (tranh Tú Duyên)
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ - Tranh ViVi
Trưng Nữ Vương - Tranh ViVi
Nhụy Kiều tướng quânTriệu Thị Trinh
Vua Lê Đại Hành và Thái Hậu Dương Vân Nga (tranh ViVi)
Danh tướng Lý Thường Kiệt (tranh ViVi)
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (tranh Bé Ký)
Quân sư Nguyễn Trãi (hình trên Internet)
             Hai Bà Trưng (40-43 AD)

Năm 40 thời Bắc thuộc, Thái Thú Tô Định bắt giết ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc,
và đàn áp dân Lạc Việt. Vì nợ nước thù nhà, bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi
dậy đánh đuổi Tô Định, lên làm vua xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Triều
đại Trưng Vương tuy chỉ ngắn ngủi 3 năm, nhưng đã chứng tỏ tinh thần bất khuất
của người phụ nữ Việt, và mở đầu cho nền độc lập nước nhà.

                       The Trung sisters (40-43 AD)  

In the year 40, during the collonial years of the northern invaders, govenor To Dinh brutally
exploited the Lac Viet people. He also killed Trung Trac’s husband Thi Sach. In revenge for
the nation and her personal loss, Trung Trac and her younger sister Trung Nhi staged a
revolt, repelled To Dinh out of the country, captured 65 citadels and 4 provinces. They
became queens Trung Vuong having capital at Me Linh. Their regime only lasted 3 years but
it manifested the unbending will of the Viet people, and gained the first independence for the
nation.
Đọc thêm tài liệu bằng Anh Ngữ, xin click vào đây:
http://www.viettouch.com/trungsis/
Danh tướng Bùi thị Xuân - Tranh ViVi
Hồ Xuân Hương - Tranh ViVi
Chuyện Phù Đổng Thiên Vương

Chuyện xẩy ra vào đời Hùng Vương thứ 6, khi đó giặc Ân rất cường bạo và hung hãn, xâm lăng
nước Văn Lang. Quân tướng ta đều thua trận.

Vua Hùng và các quan rất lo sợ, mới truyền lệnh khắp nước tìm người tài giỏi để giúp vua đánh
giặc. Tại làng Phù Đổng,  có cậu bé lên ba mà chưa biết nói. Khi nghe được lời truyền của vua,  
cậu bé liền nói được và nhờ  sứ giả  tâu  vua  cho
đúc ngựa sắt cùng roi sắt để đi đánh giặc.

Khi ngựa và roi sắt đúc xong,  cậu bé vươn vai trở thành một thanh niên cao lớn, cưỡi ngựa cầm
roi đi đánh đuổi giặc Ân.

Giặc tan, cậu bé cũng biến mất trên núi Sóc Sơn. Vua biết ơn, cho lập đền thờ ở làng Phù Đổng,
và phong là Phù Đổng Thiên Vương.
Phù Đổng Thiên Vương
Lữ Gia (? - 111 BC)
Hai Bà Trưng (40-43 AD)
Lữ Gia (?-111 TCN), tên hiệu là Bảo Công [1] là Tể tướng của bốn đời vua nhà Triệu nước
Nam Việt. Ông là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và cuối cùng thất
bại trước cuộc xâm lăng của nhà Hán.

Minh Vương Triệu Anh Tề đã có con lớn là Triệu Kiến Đức với một bà vợ người Việt, nhưng vì
yêu Cù Hậu là người Hán nên lập con nhỏ của Cù Hậu là Hưng lên thay. Năm 113 TCN, Minh
Vương chết, Hưng nối ngôi, tức là Ai Vương.
Trước kia, thái hậu chưa lấy Minh Vương, đã từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người
Bá Lăng. Năm ấy nhà Hán thấy nước Nam Việt vua nhỏ nên sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ
Ai Vương và thái hậu vào chầu, như đối với các chư hầu nhà Hán, lại sai biện sĩ là bọn Gián
nghị đại phu Chung Quân tuyên dụ, dũng sĩ là bọn Ngụy Thần giúp việc, vệ úy Lộ Bác Đức
đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả.
Tể Tướng Lữ Gia tuổi cao chức trọng, người trong họ làm trưởng lại đến hơn 70 người, con
trai đều lấy con gái vua đời trước, con gái đều gả cho con em vua và người tôn thất, cùng
thông gia với Tần Vương ở quận Thương Ngô (nhà Hán). Trong nước Nam Việt, ông được
lòng dân hơn cả vua. Lữ Gia nhiều lần dâng thư can Ai Vương nhưng Ai Vương không nghe.

Lữ Gia quyết định làm binh biến, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán. Các sứ giả nhà
Hán đều muốn hại ông, nhưng thế chưa thể làm được. Triệu Hưng và thái hậu cũng sợ phe
Lữ Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết ông.

Lữ Gia bèn hạ lệnh cho trong nước rằng:

"Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý
muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của Tiên vương dâng cho nhà Hán để nịnh
bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối
lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời".
Ông bèn cùng với em đem quân đánh, giết Triệu Ai Vương và Cù thái hậu, cùng tất cả sứ giả
nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng
của Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương.

Phá Hàn Thiên Thu
Tháng 11 năm 112 TCN, Tể tướng Lữ Gia đã lập Thuật Dương Vương lên ngôi, quân của
Hàn Thiên Thu tiến vào Nam Việt, đánh phá một vài ấp nhỏ.

Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cấp lương cho quân. Khi quân nhà Hán đến còn cách
Phiên Ngung 40 dặm, thì ông xuất quân đánh, giết được bọn Thiên Thu. Sau đó ông sai
người đem sứ tiết của nhà Hán cho vào trong hòm để trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại
Dũ) dùng lời khéo để tạ tội, một mặt phát binh giữ chỗ hiểm yếu. Ông chất đá giữa sông gọi
là Thạch Môn.

Thế yếu bại binh
Mùa đông năm 111 TCN, tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá
Thạch Môn lấy được thuyền thóc của quân Triệu, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn
người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung.

Triệu Thuật Dương Vương và Lữ Gia cùng giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện
đóng ở mặt đông nam; Lộ Bác Đức đóng ở mặt tây bắc.

Mùa đông năm 111 TCN, tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá
Thạch Môn lấy được thuyền thóc của quân Triệu, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn
người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung.

Triệu Thuật Dương Vương và Lữ Gia cùng giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện
đóng ở mặt đông nam; Lộ Bác Đức đóng ở mặt tây bắc.

Lăng mộ Tể tướng Lữ Gia, Tướng Nguyễn Danh Lang hiện ở làng xã Đặng Lễ huyện Ân
Thi tỉnh Hưng Yên.

Lễ hội Nam trì hay lễ hội Bảo, Lang, Biền là lễ hội chung của ba làng Nam Trì, Đới Khê và
Bảo Tàng. Lễ hội tổ chức vào tháng 9/3 âm lịch hàng năm.   Khê) tụ hội. Hội là ca hát 10
ngày, đánh cờ, đấu vật. Ngoài ra, còn có rất nhiều nơi thờ Lã Gia như ở Hà Tây, Hà Nội, Nam
Định nhất là huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc. (
Trich Wikipedia)
Vua Đinh Tiên Hoàng
Triệu Thị Trinh (225 - 248 AD)    

Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa năm 248, chống
lại quân Đông Ngô cai trị tàn ác. Bà rất can đảm, thường nói: “ Tôi muốn cưỡi cơn gió
mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra
khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì làm
thiếp người ta”
Ra trận, Bà Triệu cưỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong, khiến quân Ngô phải khiếp
sợ. Nghĩa quân tôn bà là Nhụy Kiều tướng quân. Bà Triệu đã anh dũng hy sinh năm 23 tuổi.

                       Trieu Thi Trinh (225 – 248 AD)

Lady Trieu, whose real name was Trieu Thi Trinh, together with her brother Trieu Quoc Dat led a
revolution in the year 248 against the callus regime of Dong (Eastern) Ngo from China. She was very
brave, oftern said, “I want to ride the strong wind, surf the high waves, hunt the giant fish of the East
sea, clean up the country, and save my people from the abyss. I detest those who bend their heads
being enslaved for foreign rulers.”
In battle, Lady Trieu rode on an elephant wearing golden armour filled with glory. Her appearance
brought fear to the invading Ngo armies. Her soldiers called her Nhuy Kieu The Great. She
sacrificed her life for the country when she was only 23 years old.