Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
                Hai Bà Trưng (40-43 AD)



















                             Trưng Nữ Vương - Tranh ViVi
                   Đọc thêm tài liệu bằng Anh Ngữ, xin click vào đây:
                            
 http://www.viettouch.com/trungsis/
                               
Năm 40 thời Bắc thuộc, Thái Thú Tô Định bắt giết ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc,
và đàn áp dân Lạc Việt. Vì nợ nước thù nhà, bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi
dậy đánh đuổi Tô Định, lên làm vua xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Triều
đại Trưng Vương tuy chỉ ngắn ngủi 3 năm, nhưng đã chứng tỏ tinh thần bất khuất
của người phụ nữ Việt, và mở đầu cho nền độc lập nước nhà.

                            The Trung sisters (40-43 AD)  

In the year 40, during the collonial years of the northern invaders, govenor To Dinh
brutally
exploited the Lac Viet people. He also killed Trung Trac’s husband Thi Sach. In revenge
for
the nation and her personal loss, Trung Trac and her younger sister Trung Nhi staged a
revolt, repelled To Dinh out of the country, captured 65 citadels and 4 provinces. They
became queens Trung Vuong having capital at Me Linh. Their regime only lasted 3 years
but
it manifested the unbending will of the Viet people, and gained the first independence for
the
nation.
HS Huy Dũng
The Trưng Sisters (40 – 43)

The Trưng Sisters, Trưng Trắc and Trưng Nhị, were General Lạc’ s daughters
from Mê Linh. They were the first female Vietnamese leaders in the first century, who
successfully fought Chinese oppression when Giao Chỉ was under the Hán Empire. By the
year 40 A.D., Tô Định - a cruel ruler to the Viet people, killed her husband, Thi Sách. Trưng
Trắc along with her sister Trưng Nhị, led an uprising and successfully captured 65 citadels
from the Chinese and liberated four Counties: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Tô
Định was forced to escape, and Trưng Sisters declared themselves queens. The Hán
emperor then sent Mã Viện with a large army to fight the Trưng Sisters. Defeated by Mã
Viện and the massive Chinese army, the Trưng Sisters drowned themselves in the Hát River
(43 A.D.). The Trưng Sisters are now regarded as Vietnamese national heroines.

Trưng Nữ Vương (40 – 43)

Hai chị em Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là con gái quan Lạc Tướng ở huyện
Mê Linh (Phúc Yên). Bà Trưng Trắc là vợ ông Thi Sách người quận Chu
Diên (Vĩnh Yên).
Công Đức: Năm Giáp Ngọ (34), nhà Đông Hán cử Tô Định làm Thái Thú
quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, tham lam nên lòng dân rất
oán giận. Năm Canh Tý (40), Tô Định giết ông Thi Sách. Hai Bà Trưng
khởi nghĩa, đem quân đánh đuổi Tô Định, hạ được 65 thành trì và thu hồi
4 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố (Quảng Đông). Hai
Bà Trưng lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh. Năm Quý Mão (43) Nhà Hán sai Mã Viện đem
quân sang xâm lăng, hai Bà yếu thế phải nhẩy xuống sông Hát tuẫn tiết. Trưng Nữ Vương
chính là những vị nữ anh hùng đã thu hồi Độc Lập, Tự Chủ cho dân tộc Việt thời Bắc thuộc.
Đền thờ: Đồng Nhân (Hà Nội), Hát Môn (Sơn Tây), Hạ Lôi (Vĩnh Phúc)
và nhiều nơi khác.
Ngày Kỷ Niệm: Hàng năm vào ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch.
Văn Tế  Hai Bà Trưng (1)

(3 hồi 9 tiếng chiêng trống trước khi đọc văn tế)

California, ngày 6 tháng 2 Tân Mão (10 tháng 3 năm 2011).
Chúng con, cựu nữ sinh Trưng Vương và thân hữu, cùng đồng bào Hải ngoại, cúi đầu
dâng hương trước bàn thờ anh linh Hai Bà, kính cẩn đọc bài văn tế (chiêng trống):

Than ôi!
Giòng sông Hát mưa rơi lã chã
Đền Đồng Nhân, hương tỏa mong manh (chiêng trống)
Nước Nam quyền lực bạo hành
Tìm đâu Trưng Nữ đoạt thành, an dân?! (chiêng trống)

Nhớ xưa:
Thời Bắc thuộc tham tàn Đông Hán
Bủa luật rừng, thê thảm Lạc dân (chiêng trống)
Thái thú Tô Định bất nhân
Túi tham vơ vét tư trang bạc vàng!! (chiêng trống)

Nỗi hờn căm ngút ngàn sỹ khí
Lửa đấu tranh âm ỉ, bùng lên… (chiêng trống)
Ngài Thi Sách, huyện Châu Diên
Quyết tâm chống giặc, hy sinh thân mình! (chiêng trống)

May mắn thay!
Bà Trưng Trắc nghĩa tình sau trước
Nặng thù nhà, nợ nước hai vai (chiêng trống)
Cùng em Trưng Nhị, gươm mài
Phất cờ khởi nghĩa, đoạt ngay Lâu thành! (chiêng trống)

Tô Định sợ thất thần, bỏ trốn
Vùng Lĩnh Nam ba quận theo về (chiêng trống)
Sáu lăm thành quách yên bề
Hai Bà, ngôi báu trị vì nước Nam. (chiêng trống)

Nhưng hỡi ôi!
Trưng Nữ Vương ba năm mở nước
Triều Mê Linh mới được dựng xây (chiêng trống)
Mã Viện, lang sói một bầy
Đào rừng, khoét núi, dạn dầy xâm lăng (chiêng trống)

Ôi định mệnh, trái ngang vận nước!
Ách gông cùm vừa được gỡ ra (chiêng trống)
Dòng sông nghiệt ngã cuốn xa
Giấc mơ tự chủ, Hai Bà còn đâu?! (chiêng trống)

Chúng con nay:
Mỗi tháng hai, nhớ ngày mồng sáu
Nguyện lời thề, noi dấu Tổ Tông (chiêng trống)
Xuống đường cứu nước cứu non
Hương thơm cách mạng Trung Đông “Hoa Lài”
(chiêng trống)

Xin Hai Bà chứng giám và Thượng hưởng!
(một hồi, 3 tiếng chiêng trống chấm dứt văn tế)

(Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt -  soạn văn tế )
                         Văn Tế Hai Bà Trưng (2)

      Cali ngày cử hành Đại Lễ 6 tháng hai năm Tân Mão (3/10/2011)

      Chúng con, cựu nữ sinh Trưng Vương và đồng hương tị nạn,
      Nhân ngày Đại Lễ Kỷ Niệm Hai Bà,        
        Cúi đầu dâng hương, kính cẩn đọc bài văn tế:

      
Than ôi,
      Miếu Hát Giang mờ mờ khói phủ, biết tìm đâu thời mài kiếm, chiêu binh?
      Đền Đồng Nhân ảo ảo hương bay, còn vọng nhớ thuở phất cờ, đãi tướng.
      Cột đồng Đông Hán xóa tan,
      Cửa ải Chi Lăng hồi tưởng.
      
      Nhớ xưa
      Tô Định tham tàn,
      Lạc dân vất vưởng
      Dưới ách gông cùm, người mò châu đáy biển, mạng táng hang sâu ,
      Trong vòng kìm kẹp, kẻ săn giác ngọn rừng, thây vùi xó động.
      Vơ vét bạc vàng đầy túi, Thái Thú sách nhiễu tham lam,
      Nhục nhằn nuốt hận vào tim, Lạc Hầu nghiến răng chịu đựng.
      Gieo gió gặt bão, tùng bách  lao đao.
      Dồn vào chân tường, cỏ lau nổi chướng!
      Thi Sách khởi tinh thần bất khuất, trong nuôi quân ngoài kháng cự, vì dân vì nước hy
sinh.
      Bà Trưng nuôi ý chí kiên cường, trên nợ nước dưới thù nhà, đồng hội đồng thuyền
hưởng ứng.
      Liên Lâu trong cơn lửa bỏng, Tô Định sợ quên ăn tìm cách trốn về Tàu.
      Đông Hán trước cảnh dầu sôi, Quan Vũ lo mất ngủ gửi quân qua quận Tượng.
      Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đoạt sáu mươi lăm thành quách, uy thế vang vọng
mười phương,
      Chị với Em cùng lên ngôi Vương, thu về bốn Quận Lĩnh Nam, tiếng tăm lẫy lừng tám
hướng.
      Ba năm trị vì đất Tổ, Mê Linh triều cũ dẫu đã phai mờ
      Vạn thế tồn tại trời Nam, Miếu Hát lối xưa nay còn dấu chứng.

     
 Ôi!
      Bao đời công danh Lạc Tướng, tưởng mãi được trường tồn,
      Nửa gánh sự nghiệp Đế Vương, sao đành tâm bỏ lửng!
      Phải chăng tài cao mệnh yểu, trời không tựa thế Anh Thư?
      Thôi cũng sinh ký tử qui, đất sẽ dung quyền đại chúng.
      Hậu thế tiếc thương cành vàng lá ngọc, cung kiếm sáng ngời chính nghĩa, phận nữ lưu
sánh chí nam nhi.
      Cháu con tưởng nhớ thế phiệt trâm anh, ngựa voi cao ngạo quyền uy, thân tơ liễu so
tài lão tướng.
      
      Chúng con nay,
      Mỗi lần nghĩ về sông Hát, lệ trào khóe mắt, tiếc thuở hùng anh.
      Đôi lúc thương nhớ Mê Linh, máu nóng nhồi tim, thề cùng chí hướng.
      Xưa Mã Viện ngang tàng: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, Lạc Việt cứu nguy.
      Nay Trung Cộng ác ôn: “Tây Nguyên tàn, Việt Nam tan”, dân Nam cùng chống.
      Xưa mở đường Độc lập, Hai Bà đuổi giặc Hán  giữ lấy niềm tin
      Nay khai lối Nhân Quyền, con cháu chống quân Ngô noi theo lý tưởng.
      Bản Giốc, Hoàng Sa giặc cậy tài cướp đoạt, chúng dám bạo hành.
Biển Đông, Lãnh Hải ta đoàn kết canh chừng, lo gì “bành trướng”?

      Ngót một thế kỷ khổ đau, cầu xin Quốc Tổ, thương dân nước Nam sớm được yên vui.
      Trên ba thập niên vất vả, khấn nguyện Hai Bà, giúp cộng đồng Việt ngày thêm thịnh
vượng.

      Nay kính cẩn tế cáo và xin thượng hưởng!

      (Song Thuận Soạn thảo văn tế)                                 
Hào Khí Mê Linh

Giặc Đông Hán tham tàn
Giặc phương Bắc dã man
Khi chúng sang nước Nam
Hiếp dân, giết dân, áp bức dân…

Bọn Thái Thú ngông cuồng
Bầy dã thú bất lương
Khi chúng lên nắm quyền
Dối gian, túi tham, hại dân làng!

(Điệp khúc)
Chị em ơi! Đồng bào ơi!
Ta hãy về Mê Linh
Chị em ơi ! Đồng bào ơi!
Noi bước hùng Trưng Vương!

Chị em ơi1 Đồng bào ơi!
Theo bóng cờ Mê Linh
Chị em ơi! Đồng bào ơi!
Mau mau cứu dân mình…

Ta nòi giống Tiên Rồng
Ta con cháu Trưng Vương
Khi nước Nam biến nguy
Dấn thân, quyết tâm, hiến máu xương!

Ta con cháu vua Hùng
Ta chung bước hiên ngang
Khi nước ta Bắc xâm
Đứng lên, đấu tranh, cứu sơn hà…
(Điệp khúc)

Đây hào khí Mê Linh1

(Hết)

Song Thuan