Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
SONG THUẬN
Kỹ Sư – Cao Học Chính Trị Kinh Doanh
Cựu Giáo Sư trường VHQĐ (lớp tối) Sài Gòn







NHỮNG CUỘC CHIẾN
CHỐNG XÂM LĂNG GÌN GIỮ BỜ CÕI VIỆT NAM


BÀI THUYẾT GIẢNG
KHÓA TU NGHIỆP SƯ PHẠM KỲ THỨ 23
12-14 Aug. 2011 – Ban Đại Diện Các TTVN Nam CA










Hùng Sử Việt
2011









Em là người gốc Việt
Không biết nói tiếng Việt.
Mất gốc tự bao giờ???
Đáng thương và đáng tiếc!!!








Tổng Quát

Bờ cõi Việt Nam thay đổi qua nhiều thời kỳ: Theo truyền thuyết, nước Xích Quỷ thời Kinh
Dương Vương và nước Văn Lang thời vua Hùng, bờ cõi phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành, nay từ Quảng Nam) (1), phía tây giáp Ba
Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải (biển Đông).

Thời nhà Triệu, theo “Sử Ký” của Tư Mã Thiên “đất đai của Triệu Đà chiều ngang có hơn
vạn dặm”. (Chiều dọc biên giới phía bắc vẫn ở Ngũ Lĩnh và biên giới phía nam vẫn giáp giới
nước Hồ Tôn).

Thời Ngô Vương Quyền thắng quân Nam Hán, dành quyền tự chủ sau gần 1000 năm Bắc
thuộc, đất đai còn lại, phía bắc là tỉnh Lạng Sơn (Ải Nam Quan tức Ải Pha Lũy) giáp với tỉnh
Quảng Tây Trung Hoa, và phía nam giáp nước Chiêm Thành ở đèo Ngang. (So với thời nhà
Triệu nước ta bị mất cho Trung Hoa phần đất “Bách Việt” từ biên giới  bắc Lạng Sơn tới Ngũ
Lĩnh và đất phía nam bị mất cho Chiêm Thành từ Hà Tĩnh tới Quảng Nam). (2)  
Thời nhà Lý, biên cương phía nam Đại Việt tới nam Quảng Trị ngày nay. Thời nhà Trần, bờ
cõi tới đèo Hải Vân. Thời nhà Hậu Lê, tới đèo Cù Mông. Thời các chúa Nguyễn và nhà
Nguyễn bờ cõi Việt Nam từ ải Nam Quan (ải Pha Lũy) tới mũi Cà Mâu. (3)

Để giữ gìn bờ cõi và văn hóa dân tộc Việt Nam được vẹn toàn, dân ta đã phải đoàn kết
chống xâm lăng.   

Vậy
xâm lăng là gì? Đó là sự xâm phạm, lấn chiếm của quân đội nước ngoài qua các ngả
biên giới nước ta (xâm lược là xâm đoạt có mưu mô, sách lược). Có nhiều hình thức xâm
lăng như:

- Quấy rối và cướp đoạt tài sản tại các tỉnh biên giới rồi rút đi (thí dụ Lào, Chiêm Thành xưa
thường hay quấy rối ở các tỉnh biên giới).
- Xâm phạm nhân cơ hội nhận trợ giúp một thế lực trong nước ta (thí dụ Lê Chiêu Thống
cầu cứu nhà Thanh, Nguyễn Ánh cầu cứu Xiêm La).
- Xâm phạm biên gíới, vào kinh đô cướp và đốt phá. (Chế Bồng Nga Chiêm Thành)
- Xâm phạm, chiếm cứ đất đai, gây ảnh hưởng văn hóa và cướp đoạt tài nguyên (quặng,
mỏ)… (Pháp thuộc).
- Xâm phạm, chiếm cứ đất đai, cướp đoạt tài nguyên và đồng hóa dân tộc.  (Hán thuộc, Bắc
thuộc).

Như vậy
có nhiều quốc gia đã xâm lăng nước ta bằng võ lực. Nước Tàu còn muốn đồng hóa
dân ta bằng văn hóa nữa.
Có nhiều nguyên nhân xâm lăng khác nhau. Ta sẽ tìm hiểu về
nguyên nhân xa, nguyên nhân gần, kết quả và âm vang của những cuộc chiến chống xâm
lăng này.

Cũng nên biết rằng cuộc chiến chống xâm lăng có khi bị thảm bại, nhưng không vì đó mà ta
quên ơn những vị anh hùng tử sĩ đã hy sinh bảo vệ bờ cõi. May mắn thay,  đa số những
cuộc chiến chống xâm lăng của dân tộc Việt đều được thắng lợi, do đó đất nước và dân tộc
Việt mới còn tồn tại tới ngày nay.  

Bài này chỉ giới hạn trong những cuộc chiến chống xâm lăng bằng võ lực, bảo vệ bờ cõi Việt
Nam qua dòng lịch sử. Trong mỗi cuộc chiến, ta sẽ tìm hiểu một cách đại cương về những
nguyên nhân xa và nguyên nhân gần, cũng như giới thiệu sơ lược về tiểu sử  những anh
hùng có công đánh giặc xâm lăng.   

Những cuộc chiến chống xâm lăng bằng võ lực:

Những nước từng xâm lăng Việt Nam là: T
rung Hoa, Xiêm La (Thái Lan), Pháp (4)

1-  Cuộc chiến chống xâm lăng đầu tiên trong huyền sử: Truyện Phù Đổng Thiên Vương
chống giặc Ân thời Hùng Vương.
2- Cuộc chiến chống giặc Tần của dân tộc Bách Việt.
3- Cuộc chiến chống giặc Tây Hán của thừa tướng Lữ Gia thời nhà Triệu.
4- Cuộc khởi nghĩa chống giặc Đông Hán của Hai Bà Trưng thời Bắc thuộc lần thứ nhất.
5- Cuộc chiến chống giặc Đông Ngô của Bà Triệu thời Bắc thuộc lần thứ hai.
6- Cuộc chiến chống giặc Nam Hán của Ngô Quyền thời Bắc thuộc lần thứ ba.
7- Cuộc chiến chống nhà Tống xâm lăng của Lê Đại Hành thời nhà Tiền Lê.
8- Cuộc chiến chống quân Tống xâm lăng của Lý Thường Kiệt thời nhà Lý.
9- Cuộc chiến chống quân Nguyên Mông ba lần xâm lăng Đại Việt của Trần Hưng Đạo thời
nhà Trần.
10- Cuộc chiến đánh đuổi quân Minh của Bình Định Vương Lê Lợi thời Hậu Lê.
11- Cuộc chiến đánh đuổi quân Mãn Thanh của vua Quang Trung thời nhà Tây Sơn.
12- Cuộc chiến chống Pháp thời Pháp thuộc (1883-1945).
13- Cuộc chiến chống quân Trung Cộng xâm lăng quần đảo Hoàng Sa ngày 19/01/1974.
14- Những cuộc xâm lăng Việt Nam của quân đội Trung Cộng sau 1975, gồm có:
- Cuộc chiến chống quân Trung Cộng xâm lăng 6 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam (1979).
- Cuộc chiến chống quân Trung Cộng xâm lăng tại vùng núi biên giới phía bắc Việt Nam  
(1984).
- Cuộc chiến chống quân Trung Cộng xâm lăng quần đảo Trường Sa ngày 14/3/1988.

(Vì lý do thiếu những tài liệu chính xác để tham khảo, chúng tôi tạm bỏ các phần 14).

1- Truyện Phù Đổng Thiên Vương chống giặc Ân thời Hùng Vương thứ 6
Phù  Đổng Thiên Vương (Hình trích trên Internet)





























Đời Hùng Vương thứ 6, có giặc Ân hung bạo xâm lăng nước Văn Lang, không ai địch nổi.
Vua Hùng sai sứ giả đến khắp nơi tìm người tài đánh giặc. Tại làng Phù Đổng (nay thuộc
tỉnh Bắc Ninh) có cậu bé lên ba mà chưa biết nói. Một hôm cậu bé nghe sứ giả rao “vua
Hùng tìm người tài đánh giặc”, bỗng nói được và nhờ sứ giả về tâu vua đúc ngựa sắt và roi
sắt để đi đánh giặc giúp nước. Câu bé vươn vai thành người lớn khỏe mạnh, cưỡi ngựa sắt
và cầm roi sắt đánh tan giặc Ân, rổi biến mất ở núi Sóc Sơn. Ngày nay, đền thờ đức Thánh
Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương ở làng Phù Đổng (làng Gióng, nay thuộc Hà Nội), mỗi
năm đều có lễ hội rất lớn vào ngày 8 tháng tư.

Đây chỉ là câu truyện truyền thuyết, mang vẻ thần thoại. Nước Ân tức là nước Thương do
vua Thành Thang diệt vua Kiệt mà lập ra vào khoảng năm 1766 đến 1122 TCN (theo sử cũ
Trung Hoa). Kinh đô sau cùng của nhà Ân (Thương) ở tận An Dương, phía bắc sông Vị, Lạc
Dương, sông Hoài, Sông Hán, sông Dương Tử, cách xa Động Đình Hồ, nên đám giặc Ân
này khó có thể là quân nhà Ân Thương (Sử gia Trần Trọng Kim cũng nhận xét như vậy).
Những nguyên nhân xâm lăng của giăc Ân cũng không biết rõ.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên theo truyền thuyết, nước ta bị giặc ngoại xâm. Về mặt tinh
thần, câu truyện Phù Đổng diệt giặc Ân kích thích lòng yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam, là
nguồn cảm hứng hào hùng của nhiều văn thi nhạc sĩ. Ngày nay tại Hà Nội (Gia Lâm) có đền
thờ Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng), hàng năm đều có mở Hội (Hội Gióng) vào ngày
8 tháng tư âm lịch.


Thảo luận: Thầy Cô có nghĩ rằng tuổi trẻ Việt Nam là những mũi giáo nhọn tiên phong tiêu
diệt quân thù khi có chiến tranh xâm lược. Nhưng ở thời bình, tuổi trẻ Việt Nam phải được
hưởng đầy đủ một nền giáo dục “nhân bản, dân tộc và khai phóng” như chương trình giáo
dục thời VNCH trước 1975?
Phù  Đổng Thiên Vương (Hình trích trên Internet)
2- Cuộc chiến chống giặc Tần xâm lăng của dân tộc
Bách Việt

Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân xâm lăng đất Bách Việt vào năm 214 TCN,
sau khi đã diệt xong lục quốc (Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề) và thống nhất thiên hạ.
Đất Bách Việt là nơi sinh tụ của dân tộc Việt bao gồm nhiều sắc dân (kể cả dân tộc Lạc Việt
tức Việt Nam ngày nay), có cùng chủng tính như tục vẽ mình, nhuộm răng, ăn trầu, ngồi xếp
vòng tròn, mặc áo cài nút bên trái, cắt tóc ngắn, thích ăn cá mắm, kính trời và thờ cúng tổ
tiên. Người Việt còn khác biệt với người phương bắc về khả năng trồng lúa nước và tục xử
dụng thuyền để di chuyển (sách Hoài Nam Tử - Lưu An - "
Nam thuyền bắc mã").  Đất Bách
Việt ở vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây và Hồ Nam bây giờ.

Nguyên nhân xa: Nhà Tần sau khi diệt được “lục quốc” (từng thuộc về  “thất hùng”)  đã trở
thành một nước hùng mạnh. Hoàng đế Tần Thủy Hoàng rất đắc chí, muốn bành trướng lãnh
thổ. Ông vua hung bạo này bèn sai Mông Điềm đem 30 vạn quân đánh dẹp Hung Nô ở miền
Bắc, ra lệnh xây “vạn lý trường thành” và sai Đồ Thư cùng Sử Lộc đem 50 vạn quân đánh
Bách Việt ở miền Nam.  

Nguyên nhân gần: Nhà Tần muốn chiếm cứ đất Bách Việt vì  nơi đây đất đai phì  nhiêu,
cây cỏ tốt tươi lại có nhiều ngà voi, sừng tê giác, lông chim trả, ngọc châu và ngọc cơ
.
Cuộc chiến chống quân Tần xâm lăng: Căn cứ theo Sử Ký (Tư Mã Thiên) và sách Hoài
Nam Tử (Hoài Nam Vương Lưu An),  quân Tần chia thành 5 đạo, tiến qua Ngũ Lĩnh. Ba
cánh quân tiến đánh Đông Việt (nam Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến) và hội tại Phiên
Ngung rồi đánh chiếm Nam Việt (Quảng Đông), lập ra quận Nam Hải. Hai cánh quân còn lại
tiến đánh Tây Âu gặp rất nhiều khó khăn vì không tiện việc tải lương, phải đào kênh Linh
Cừ để chở lương bằng thuyền và gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của người “Tây Âu Việt”.
Khi quân Tần giết được thủ lãnh Tây Âu là Dịch Hu Tống, người Việt bỏ trốn trong rừng,
không chiu đầu hàng quân Tần.  Năm 214 TCN, quân Tần chiếm được đất Lục Lương, lập
ra hai quận Quế Lâm và Tượng Quận (Tượng Quận ở phía tây Quảng Tây, không phải là
nước Việt Nam ngày nay).

Kết quả: Đây là cuộc chiến chống ngoại xâm đầu tiên trong lịch sử thành văn của người
Bách Việt nói chung và của dân tộc Lạc Việt nói riêng. Cuộc chiến kéo dài khoảng 10 năm,
quân Tần rất khổ cực, bị tiêu hao dần và tướng Đồ Thư bị người Việt phục kích giết chết.
Sau khi Tần Thủy Hoàng mất, Tần Nhị Thế lên thay, nhà Tần suy yếu vì phải đối phó với
nhiều thế lực nổi lên chống đối, nên không còn đủ sức kiểm soát cuộc chiến xâm lăng tại
miền Nam Lĩnh nữa.
3-  Cuộc chiến do Lữ  Gia chỉ  huy chống giặc Tây Hán
thời nhà Triệu  

- Tiểu sử Lữ Gia: Lữ Gia hiệu Bảo Công, là người Việt, làm Thừa tướng bốn đời vua nhà
Triệu, quê huyện Lôi Dương, quận Cửu Chân (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá). Lữ
Gia có người anh em kết nghĩa là Nguyễn Danh Lang (Lang Công). Theo Sử Ký Tư Mã
Thiên (5), “Thừa tướng của Vương (Triệu Ai Vương còn nhỏ) là Lữ Gia tuổi đã nhiều, là
thừa tướng ba đời vua. Họ hàng là quan trưởng lại đến hơn bảy mươi người. Con trai lấy
con gái vua, con gái lấy con trai, anh em, tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở
quận Thương Ngô. Ông ở trong nước rất được tôn trọng, người Việt tin ông, nhiều người
làm tai mắt cho ông”. (7)

-
Triệu Đà lập nước Nam Việt: Khi Lưu Bang diệt xong nhà Tần, lên làm vua lập ra nhà
Hán ở phương bắc nước Tàu, thì tại phương nam Triệu Đà lên làm vua đã được 1 năm,
xưng là Triệu Vũ Đế, đóng đô tại Phiên Ngung. Nguyên Triệu Đà người nước Triệu (Chân
Định) làm huyện lệnh Long Xuyên (Nam Hải) được quan úy Nam Hải Nhâm Ngao lúc bệnh
sắp chết, làm chiếu giả để Triệu Đà lên thay. Khi nhà Tần bị diệt, Triệu Đà bèn dùng hình
pháp giết hết trưởng lại nhà Tần, chiếm cứ Quế Lâm, Tượng Quận và lập ra nước Nam Việt
độc lập với nhà Hán. Hán Cao Tổ thấy Triệu Đà chiếm được đất “Bách Việt” ở miền Nam,
muốn đem quân chinh phạt, nhưng không dám vì mới đánh nhau với quân Tần và quân Sở
Bá Vương, quân sĩ còn mệt mỏi. Tư Mã Thiên viết: “…thấy Trung Quốc mới khổ nhục, cực
nhọc nên tha Đà không trị tội” (6). Vua Hán bèn sai Lục Giả đi sứ Nam Việt, vừa vuốt ve,
vừa răn đe, phong cho Triệu Đà làm Nam Việt Vương và dặn dò  “không được gây việc lo
ngại ở biên giới phía nam”. Triệu Vũ Đế bề ngoài tỏ vẻ thần phục nhà Hán, nhưng trong
nước vẫn dùng đế hiệu, không sợ gì nhà Hán.
- Chuyện Cù Thị, người con gái mất nết ở Hàm Đan:
Năm 137 TCN, Triệu Đà mất, cháu là Triệu Hồ (Triệu Văn Đế - con Trọng Thủy) lên thay. Vì
Triệu Hồ quá nhu nhược nên sau vụ vua Mân Việt xâm lấn biên cương Nam Việt, Văn Đế
phải đưa Thái tử Anh Tề sang Hán làm con tin. Tại nước Hán, Anh Tề cưới Cù Thị, một
người con gái mất nết ở Hàm Đan, đã thông dâm với một viên quan nhà Hán là An Quốc
Thiếu Quý (Tại Nam Việt, Anh Tề đã có vợ con người Việt). Cù Thị sinh được một con trai là
Hưng. Khi Triệu Văn Đế băng, Thái tử Anh Tề về nước làm vua (Triệu Minh Vương) và
Hưng làm Thái tử, Cù Thị làm Hoàng Hậu. Tới khi Triệu Anh Tề mất, Thái tử Hưng lên làm
vua (Triệu Ai Vương) và Cù Thị được lên làm Thái Hậu.

-
Nguyên nhân xa: Nhà Hán theo đuổi chính sách xâm lược miền Nam Lĩnh của nhà Tần.
Chỉ vì khi Triệu Đà còn sống, sức mạnh quân sự và tài trí của Triệu Vũ Đế đã khiến nhà Hán
phải kiêng nể. Tới khi Thái Tử Anh Tề của nhà Triệu qua làm con tin, nhà Hán đã dụng ý
dùng mưu thay vì dùng võ để chiếm Nam Việt. Câu chuyện  “Gái Hàm Đan vợ vua Nam Việt
- Răng trắng ngời, mắt liếc sáng trưng… Thành nghiêng vì gái Hàm Đan, Nước xuôi Dương
Thủy, tre tàn sông Tương ” (Nam Việt Hành của Chu Chí Tài) chính là “mỹ nhân kế” của nhà
Hán, được thấy rất thường trong lịch sử Trung Hoa. Theo Phạm Cao Dương (Lịch sử Dân
Tộc Việt Nam) còn một nguyên nhân nữa là vì nhà Hán (Trương Khiên) khám phá ra con
đường từ Ba Thục (Tứ Xuyên) nối liền với các xứ miền tây như Ấn Độ, A Phú Hãn… Nhà
Hán xâm lược Nam Việt là vì nhu cầu chiến lược liên quan đến Kinh Tế (giao thông) nữa.

-
Nguyên nhân gần: Thừa Tướng Lữ Gia biết rõ âm mưu của sứ giả nhà Hán (An Quốc
Thiếu Quý) và Thái Hậu Cù Thị muốn dâng  nước Nam Việt cho nhà Hán (nội thuộc nhà
Hán), trong khi vua Nam Việt là Triệu Ai Vương còn bé, quyền nhiếp chính là Thái Hậu Cù
Thị. Lữ Gia làm hịch kể tội Cù Hậu và âm mưu của nhà Hán: “Vương tuổi còn trẻ, Thái Hậu
là người Trung Quốc, lại dan díu với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc, đem hết đồ quý báu của
tiên vương vào dâng thiên tử để được yên. Đem nhiều người đi theo, đến Trường An, bán
cho người ta làm đồng bộc. Thái hậu chỉ nghĩ đến cái lợi thoát thân một thời, không nghĩ gì
đến mưu kế lâu dài cho xã tắc họ Triệu cả” (Sử Ký – sách đã dẫn). Sau đó, Lữ Gia đem
quân giết hết các sứ giả nhà Hán, giết cả Thái Hậu Cù Thị và vua Triệu Ai Vương, “lập Vệ
Dương Hầu Kiến Đức, người con trai đầu của Minh Vương, vợ là người Việt, làm vua” (Sử
Ký – sách đã dẫn).  
Vua Hán sai Hàn Thiên Thu và Cù Lạc (em Cù Thị) cùng hai ngàn quân xâm phạm đất Nam
Việt, đều bị quân của Thừa tướng Lữ Gia đánh bại và giết chết tại biên giới.

-
Cuộc chiến chống nhà Hán xâm lăng của Lữ Gia: Lữ Gia biết quân Hán thế nào cũng
qua xâm lăng Nam Việt, nên một mặt thông báo cho nước Mân Việt làm đồng minh, mặt
khác đem quân giữ biên ải Ngũ Lĩnh. Năm 112 TCN, Hán Đế chuẩn bị chiến tranh, truyền
mười vạn quân lâu thuyền ở miền Giang, Hoài trở về Nam. Năm 111 TCN, Hán đế phong vệ
úy là Lộ Bác Đức làm Phục Ba Tướng Quân, Dương Bộc và nhiều tướng khác kể cả hàng
tướng người Việt là Kiệt Hầu, mang 5 đạo quân sang xâm lăng Nam Việt.
Quân Lữ Gia chống giữ các ải quan Ngũ Lĩnh không nổi vì lính Hán đông gấp bội lại có rất
nhiều tội nhân người Hán bị xung vào đoàn quân tiên phong, phải liều chết tiến lên (lui cũng
sẽ bị giết chết). Hán quân đánh thắng tại Thạch Môn (do Lữ Gia sai quân chất đá ở giữa
dòng sông tại biên giới nhằm ngăn chặn giặc xâm lăng).
Quân Hán vây thành Phiên Ngung. Lữ Gia và vua sau cùng nhà Triệu là Kiến Đức cùng ra
sức chống giữ. Tướng Hán dùng quan tước, bổng lộc dụ quân tướng Nam Việt ra hàng và
phóng lửa đốt thành. Đến sáng hôm sau, thành Phiên Ngung bị hạ. Vua Triệu Dương
Vương và thừa tướng Lữ gia cùng gia quyến vài trăm người xuống thuyền ra biển, toan
chạy về hướng tây. Sau đây là đoạn trích nguyên văn trong Sử Ký (Nam Việt Úy Đà Liệt
Truyện của Tư Mã Thiên): “Hiệu úy Tư Mã Tô Hoàng là người Việt hàng Hán bắt được Kiến
Đức, được phong làm Hải Thường Hầu, quan lang người Việt là Đô Kê bắt được Gia, được
phong làm Lân Thái Hầu”.
Những tên Việt gian phản quốc đều được nhà Hán ban phát tước hầu, nhưng đối với dân
tộc Việt, chúng đều là những tên tội đồ phản bội, đời đời bị phỉ nhổ, khinh khi..

-
Anh Hùng dân tộc Lữ Gia: Thừa tướng Lữ Gia không ham tước vị và bổng lộc của nhà
Hán, cương quyết chống Hán để giữ gìn giang sơn Nam Việt, quả thực là vị anh hùng dân
tộc.
Mặc dù bị thất bại, nhưng tên tuổi anh hùng Lữ Gia không bao giờ phai nhạt.
Hiện nay có 2 đường phố ở Hà Nội và Sài Gòn đều mang tên Lữ Gia, và tại nhiều tỉnh đều
có đền thở Lữ Gia như: Tại Hà Tây, Hà Nội, Nam Định nhất là huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh
Phúc. Lăng mộ Tể tướng Lữ Gia, Tướng Nguyễn Danh Lang hiện ở làng xã Đặng Lễ huyện
Ân Thi tỉnh Hưng Yên. Lễ hội Nam Trì hay lễ hội Bảo, Lang, Biền là lễ hội chung của ba làng
Nam Trì, Đới Khê và Bảo Tàng. Lễ hội tổ chức vào tháng 3 âm lịch hàng năm (nguồn
Wikipedia).
Lăng Mộ Thừa tướng Lữ Gia & Tướng Nguyễn Danh Lang (nguồn
internet)
Bản đồ Bách Việt ( Trích từ VNSL - Trần Trọng Kim)
4- Cuộc khởi nghĩa chống giặc Đông Hán của Hai Bà Trưng
thời Bắc thuộc lần thứ nhất (40-43)














Cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng của Hai Bà Trưng sau hơn một trăm năm bị nhà Hán đô hộ
nói lên tinh thần bất khuất của dân tộc Việt. Được biết, sau khi nhà Tây Hán chiếm được
nước Nam Việt vào năm 111 TCN, Hán Vũ Đế đã cải là Giao Chỉ Bộ, chia ra 9 quận, đặt
quan Thái Thú và quan Thứ Sử để cai trị (8). Cuộc đô hộ của nhà Hán kéo dài đến hết thời
Tây Hán (111 TCN – 25) được êm thấm. Năm thứ 8 sau CN, Vương Mãng ( 9-23) chiếm
ngôi vua nhà Hán, đổi quốc hiệu là Tân, sử gọi là “Vương Mãng biến pháp”.  Người Tàu
(nghèo hay giàu) đều oán giận chính sách mới này.

Nguyên nhân xa: Do biền cố “Vương Mãng biến pháp”, nhiều người Tàu trung thành với
nhà Hán và bất bình về chính sách mới của Vương Mãng,  đã bỏ nước di cư đến Giao Chỉ
sinh sống, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt với ngưòi địa phương, nhất là  giới quý tộc Lạc Hầu,
Lạc Tướng (bị mất nhiều quyền lợi). (9)

Nguyên nhân gần:  Thái Thú Tô Định là người tham lam, tàn bạo đã dùng hình pháp giết
chết ông Thi Sách người huyện Châu Diên, là chồng bà Trưng Trắc, con gái Lạc Tướng ở
huyện Mê Linh. Việc làm “thất nhân tâm “ của Tô Định (giết ông Thi Sách) chính là ngòi lửa
châm vào thùng thuốc súng (Giới quý tộc và dân chúng cùng căm giận chính sách bóc lột
tàn ác của Tô Định và sự tràn ngập người Tàu “khách trú” thao túng thị trường buôn bán và
sở hữu đất đai).

Cuộc khởi nghĩa: Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng xẩy ra vào năm Canh Tý (40) đúng
151 năm kể từ ngày giặc Hán xâm lăng, tiêu diệt nước Nam Việt và đô hộ toàn dân Lạc Việt
từ Động Đình Hồ đến tỉnh Quảng Nam, Việt Nam ngày nay. Cuộc khởi nghĩa không những
được người Lạc Việt hưởng ứng mà cả những người Việt trong khối Bách Việt ở Hoa Nam
cũng ủng hộ (10). Hai Bà Trưng điều quân khởi nghĩa đánh chiếm thành Luy Lâu (tức Liên
Lâu, thủ phủ của Giao Châu ở vùng đất Dâu thuộc Bắc Ninh ngày nay). Tô Định bị bà
Trưng Trắc giết chết  (11).

Chẳng bao lâu, quân Hai Bà chiếm 65 thành và được các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật
Nam và Hợp Phố cùng theo về. Hai Bà Trưng lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Được 3 năm,
vua  Hán Quang Vũ sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân cùng Đoàn Chí chỉ huy Lâu
thuyền sang đánh Trưng Vương.  Tương truyền, Hai Bà thua phải nhẩy xuống sông Hát
tuẫn tiết vào ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão (43). Xưa đền thờ Hai Bà Trưng (Đền Đồng
Nhân) ở bên Sông Hồng, xây tử đời nhà Lý (Lý Anh Tông) năm 1160. Đến năm 1819, vì bãi
bị lở, dân dời đền vào khu vực trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên,
Hà Nội (địa điểm ngày nay), ở Mê Linh và nhiều nơi khác…  
Hai Bà Trưng – Đài Tưởng Niệm Anh Hùng (Roger Stanton Park – Midway City)
5- Cuộc chiến chống giặc Đông Ngô của Bà Triệu thời Bắc
thuộc lần thứ hai (248)


Cuộc khởi nghĩa xẩy ra vào năm Mậu Thìn (248), dưới thời Nhà Đông Ngô đô hộ nước ta.

Nguyên nhân xa: Nhà Đông Hán mất ngôi năm 220, nước Tàu chia thành 3 nước là Bắc
Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Nước ta bị Đông Ngô cai trị. Nhà Đông Ngô tiếp nối chính
sách cai trị trực tiếp và khắc nghiệt của nhà Đông Hán đối với dân Giao Chỉ. Những viên
Thứ Sử, Thái Thú lại nghe tiếng đất Giao Chỉ có nhiều vật quý giá như ngà voi, sừng tê
giác, lông chim trả, ngọc minh châu, ngọc trai, và nhiều loại trái cây hiếm quý và lạ như
chuối tiêu, dừa nhãn…nên nổi lòng tham, luôn hà hiếp và bắt dân chúng phải tìm nộp cho
chúng những phẩm vật quý giá kể trên… khiến dân chúng toàn vùng Giao Chỉ nói chung,
quận Cửu Chân (vùng Thanh Hóa) nói riêng phải chịu vô vàn cực khổ. Họ ngấm ngầm chở
thời cơ nổi dậy.

Nguyên nhân gần: Năm 248 dân chúng quận Cửu Chân nổi lên đánh phá các thành ấp.
Nhà Ngô sai Lục Dận sang Giao Chỉ làm Thứ Sử kiêm Hiệu Úy, lo trấn áp những cuộc nổi
dậy này. Lục Dận đã khôn khéo áp dụng chính sách mềm dẻo “dùng ân huệ và đức tin (?)”
thu phục dân nổi loạn.

Bà Triệu Thị Trinh người huyện nông Cống, tỉnh Thanh Hóa mồ côi từ nhỏ, phải ở với anh
là Triệu Quốc Đạt.  Vì bất hòa với người chị dâu khắc nghiệt, năm 20 tuổi bà vào núi ở, thu
phục được hàng ngàn thuộc hạ và khởi nghĩa giúp anh Triệu Quốc Đat. Trong khi đó, Thứ
Sử  Lục Dận ra sức chiêu hàng những kẻ tham danh lợi và không có chính nghĩa.

Cuộc chiến đấu: Bà Triệu Thị Trinh luôn nêu cao lý tưởng của mình: “Tôi muốn cưỡi cơn
gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu
dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì
thiếp người ta”. Bà Triệu cùng anh đánh phá quận Cửu Chân. Bà rất can đảm, mặc áo giáp
vàng, cưỡi đầu voi, chiến đấu rất anh dũng. Quân sĩ tôn bà là “Nhụy Kiều tướng quân” (Có
thể là Nhuệ, đọc trại thành Nhụy? Nhuệ nghĩa là sắc sảo, ý chí và sức mạnh không thể lay
chuyển được, không ai đương lại được). Khi Triệu Quốc Đạt ốm chết, bà Triệu thay thế anh
tiếp tục chiến đấu, đánh thắng quân Ngô dưới quyền điều động của Thứ sử Lục Dận nhiều
trận. Sau sáu tháng chiến đấu, vì thế cô Bà Triệu phải rút quân về xã Bồ Điền và tự tử để
bảo toàn danh tiết. Bà Triệu mất năm 23 tuổi (khoảng năm 231), được vua Lý Nam đế
phong là “Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân”. Sách Tàu vinh danh bà sau khi
chết đã thành thần (Thái Bình Thiên Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử đời Tống).

Hiện nay, đền thờ Bà Triệu tại núi Gai (núi Ải), sát đường QL1A, thuộc làng Phú Điền,
huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (cách Hà Nội 137 km).