Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
              Mài Kiếm Dưới Trăng
                                                 (Kịch Thơ hai màn, hai cảnh)
 

Bối cảnh Lịch sử

Sau khi Hồ Quí Ly đoạt ngôi nhà Trần, vua Minh bên Tàu bèn nhân dịp lấy cớ đem quân sang
xâm chiếm nước ta.
Năm 1408, các ông Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân giúp vua nhà Hậu Trần là Giản Định Đế,
đánh thắng được quân Minh do Mộc Thạnh chỉ huy ở trận Bô Cô. Được tin thua trận, vua
Minh bèn phong cho Tướng Trương Phụ làm thống binh sang nước Nam đánh báo thù và lập
nền đô hộ tại đây .
Trương Phụ đi đến đâu cũng làm những điều tàn bạo ghê gớm như xếp người thành núi, rút
ruột treo cây, nấu thịt lấy dầu...lại phong thưởng người bản xứ để giết hại lẫn nhau.(1)   
Các ông Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân sau đó vì bất đồng ý kiến với vua Giản Định và bị
gian thần gièm pha, nên đều bị giết chết. Con ông Đặng Tất là Đặng Dung và con ông
Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị theo phò vua Trần Quí Khoách (tức vua Trùng Quang
nhà Hậu Trần), gạt qua bên thù nhà, chỉ chú tâm vào việc đánh đuổi giặc Minh, quang phục
quê hương.
Tháng Sáu năm quí tị (1413), quân Trương Phụ vào lấy Nghệ An, quan Thái Phó nhà Hậu
Trần là Phan Quí Hữu ra hàng. Con Quí Hữu là Phan Liêu được Trương Phụ cho làm tri phủ
Nghệ An, muốn tâng công nên đã cung khai hết lực lượng  
quân kháng chiến và các nơi hiểm yếu ở Hoá Châu.
Đến tháng chín, quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, Nguyễn Súy  và Đặng Dung  nửa
đêm đem quân đến đánh trại Trương Phụ. Đặng Dung đã vào được thuyền của Trương Phụ
định để bắt sống, nhưng không biết mặt, vì thế Trương Phụ mới nhẩy xuống sông lấy cái
thuyền con mà chạy thoát được.(2)
Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công, nhưng lòng
trung liệt của nhà họ Đặng cũng làm đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ
ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.(3)
Ông Đặng Dung có làm bài thơ thuật hoài, được truyền tụng như sau:,   
Thế sự du du nại lão hà!
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa.
Tri chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị phục đầu tiên bạch.
Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma!

Bản Dịch của ông Phan Kế Bính:
           
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Nhân vật:

- Đặng Dung: Con ông Đặng Tất, là tướng lãnh phò vua Trùng Quang Trần Quí Khoách nhà
Hậu Trần.
- Vua Trần Quí Khoách: Vua nhà  Hậu Trần.
-
Hồng Nương: Thám tử của nhà Hậu Trần, giả làm chủ quán nước để săn tin giặc.
-
Lão tiều phu: Một sĩ phu ẩn danh, làm nghề kiếm củi, thông thuộc đường lối ở Hoá Châu,
ra đầu quân giúp Vua nhà Hậu Trần, và tình nguyện hướng dẫn Đặng Dung đột kích bản
doanh thủy quân của tướng giặc Trương Phụ nhà Minh.
-
Nguyễn Súy: Một tướng nhà Hậu Trần, cùng với Đặng Dung đột kích vào thuyền giặc.
- Nguyễn Cảnh Dị: Con Nguyễn Cảnh Chân, làm tướng cùng với Đặng Dung giúp Vua nhà
H
ậu Trần.
- Nghĩa quân, lính canh, quân hầu
.

Thời gian: Lúc nửa đêm.

Cảnh: Cảnh đêm sáng trăng nơi khu chiến chống quân nhà Minh xâm lược. Bên bờ suối, có
tảng đá lớn để mài kiếm, và một đống lửa nhỏ nhóm lên bên cạnh có một ấm nước trà và một
cuốn binh thư.

Nhạc đệm: Trầm buồn, hùng tráng.

Mở Màn

(Sau một hồi kẻng điểm canh, có tiếng ngâm hậu trường bốn câu thơ thuật hoài của Đặng
Dung):
"Tri chủ hữu hoài phù địa trục,"
"Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà"
"Quốc thù vị phục đầu tiên bạch"
"Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma!"
(Vai khiêng trái đất mong phò chúa)
(Giáp gột sông trời khó vạch mây)
(Nợ nước chưa xong đầu đã bạc)
(Dưới trăng mấy độ tuốt gươm mài)        
Đặng Dung (Đưa thanh gươm đang mài lên soi dưới ánh trăng, rồi lấy ngón tay thử xem đã
sắc chưa):
- Ta mài kiếm từng đêm từng uất hận
Bởi quân thù còn dày xéo quê hương.
Soi bóng trăng vằng vặc giữa canh trường,
Lòng sao thẹn, lưỡi gươm mài chưa sắc!
Để dẹp tan loài sài lang cướp nước
Đang nghênh ngang ngự trị đỉnh tham tàn!
Chúng tước đoạt quyền người, chà đạp lương dân,
Dùng bạo lực tạo vô vàn đau khổ!
(Bỗng lính canh vào báo)
Lính canh: - Bẩm Tướng quân
Có Hồng Nương chủ quán đến báo tin cơ mật!
Đặng Dung: - Được! Mời vào.
Lính canh: - Tuân lệnh!
Hồng Nương (thi lễ):
- Hồng Nương kính chào Đặng tướng quân.
Đặng Dung:
- Kià Hồng Nương! Chào nàng!
Hôm nay quán mở cửa hàng khuya khoắt,
Hẳn có tin về hoạt động Bắc phương?
Ta vẫn chờ...đêm trăng sáng vô ngần!
Hồng Nương:
- Dẫu trăng sáng...  thiếp không quên nhiệm vụ,
Túc trực bán hàng, theo dõi đối phương.
Vừa nhận được tin mật ở tiền đồn,
Rằng địch đang chuyển quân thật gấp!
Đặng Dung :
-  Địch đang chuyển quân ư?
Hừ! Tại Nghệ An tướng họ Phan hàng giặc,
Có thể đã khai hết lực lượng quân ta.
Nhưng Mộc Thạnh vừa nếm mùi thất bại,
Chắc chưa dám liều đem quân tiến thêm xa!
Hồng Nương:
Tướng quân đoán đúng!
Tên Mộc Thạnh vẫn còn nơm nớp sợ,
Trận Bồ Cô thua tan tác vừa qua!
Nhưng ...Trương Phụ, tên cáo già xảo quyệt,
Hắn mưu mô không hẳn bó tay chờ...
Đặng Dung (chặc lưỡi):
- Chính vì thế, ta mài gươm cho sắc,
Quyết ngăn thù...
Nhưng một thoáng mơ xa...
Ngày thanh bình chấm dứt cảnh can qua.
Ta sẽ trở về quê hương xưa cũ!
Hồng Nương (mơ màng):
Và thiếp cũng ước mơ về quê dệt lụa,
Chăn nuôi tằm với một lũ con thơ...
Đặng Dung (âu yếm , nhìn Hồng Nương):
- Ta vì nàng...chắc sẽ phải làm thơ
Tả vẻ đẹp bơ vơ người thiếu phụ!
Hồng Nương (cúi đầu, vân vê tà áo):
- Khi giặc đến, thiếp tham gia đánh giặc
Quán nước bên đường làm trụ sở săn tin.
Thân con gái...ôi! âm thầm nuốt nhục,
Để chờ một ngày quang phục giang sơn!
Đặng Dung (thở dài, phẫn uất):
Ngày quang phục giang sơn?
Ôi! sao mà xa quá!
Giặc hung tàn đang đốt phá quê hương!
Ta phải làm gì? Nuôi máu nóng căm hờn?
Không lẽ khoanh tay chờ ngày gục xuống!
(Đặng Dung không ngăn nổi sự xúc cảm, toàn thân run rẩy, phải chống gươm mới khỏi bị té
xuống)
Hồng Nương (thảng thốt, vội chạy đến đỡ lấy Đặng Dung):
- Đặng Tướng quân! Chàng ...Chàng...sao thế?
Đặng Dung (nhè nhẹ đẩy Hồng Nương sang bên, sau đó xuống tấn, thu hồi chân khí):
- Cám ơn nàng, ta không sao.
Ôi, đường gươm gia bảo! Đến bao giờ mới trả xong nợ nước thù nhà!
(Đặng Dung vung kiếm múa vài đường gươm gia truyền)
Hồng Nương (tấm tắc khen phục):
- Đường gươm Đặng gia quả danh bất hư truyền!
Đặng Dung (thu kiếm lại, vái tạ sự khen thưởng của Hồng Nương):
- Đa tạ...đa tạ. (sau đó Đặng Dung chống kiếm xuống đất, soi bóng trên dòng suối mà thở
than):
- Đây gươm báu trao tay từ tổ phụ
Khoác chinh y, ta dứt bỏ thanh xuân.
Nghe trống thúc quân, xuất trận bao lần,
Trong cát bụi, nhưng chưa thành cát bụi!   
Vai gánh vác giang sơn chừng mệt mỏi,
Hồn thanh niên một tối bỗng già nua!
Thù chưa trả, tóc đã mầu sương tuyết,
Gươm ta mài, ôi! đủ sắc hay chưa?
(
Tiếng Lão tiều phu vọng tới)
- Ha ha ha...! Tiếng than nào u ẩn giữa trời khuya
Làm chua sót cả bốn bề tạo vật?
Đặng Dung (Giật mình, thủ thế):
- Ai? Quân đâu?
Lính canh :
- Dạ!
Đặng Dung:  
- Ta nghe như có tiếng người lẩn khuất,
Là bạn hay thù?
Mau mau hãy hiện thân!
Lão tiều phu (Xuất hiện, vòng tay chào Đặng Dung và Hồng Nương):
- Lão hủ Lê Lượng tiều phu kính bái yết Tướng quân và cô nương.
(Lính canh cũng vưà ập tới dí gươm canh chừng Lão tiều phu).
Đặng Dung (thấy một ông già kiếm củi, không mang khí giới bèn yên tâm hất hàm ra lệnh
cho lính canh):
- Các ngươi lui ra tiếp tục canh phòng!
Để ta lo xử trí việc riêng!
Lính canh:
- Tuân lệnh!
Đặng Dung (nghiêng mình đáp lễ Lão tiều phu):
-  Đặng Dung kính chào Lão trượng!
Hồng Nương (cũng chắp tay thi lễ):
- Hồng Nương kính chào Lão bá!
Lão tiều phu:
- Không dám! không dám!
Lão hủ chỉ là một gã thất phu,
Sống nghèo hèn làm nghề kiếm củi,
Không vợ, không con, không cả ước mơ!
Trong đêm tối nghe những lời tâm huyết
Của vị Tướng quân uống cạn chén căm thù!
Nên mạo muội, đánh liều tìm xin gặp
Mong được đầu quân, cùng gánh vác giang sơn!
Đặng Dung (thở dài):
- Ta nay đang đi trên bước đường cùng,
Lão không sợ uổng công theo phò tá?
Lão tiều phu (vẻ cương quyết):
- Thưa Tướng quân,
Lão tuổi hạc, đã ngoài vòng cương tỏa
Không thiết tha gì dến chuyện tử sinh!
Nhưng vì giang sơn quằn quại gót xâm lăng
Già hay trẻ cùng chung niềm tủi nhục!
Gươm chưa sắc, sao tinh thần héo hắt,
Chí đang bền, lòng tan nát được chăng?
Đánh đuổi quân thù, lão đâu sợ uổng công!
Đặng Dung (Lóe lên niềm phấn khởi):
- Phải đó...phải đó!
Ta mài gươm mong cứu lấy giang sơn,
Dẫu gục ngã kiếp này, đàn sau tiếp nối...!
Đa tạ Lão phu đã chỉ đường khai lối,
Kẻo đêm nay, ta mòn mỏi u mê
E máu nóng nguội dần trong huyết quản,
Sợ căm thù tan vội với trăng khuya!
(Đặng Dung, Hồng Nương và Lão Tiều phu còn đang đàm đạo, bỗng lính canh vào báo cáo)
Lính canh:
- Bẩm Tướng công,
Chúa Thượng vi hành giá lâm!
Đặng Dung:
- Quân đâu?
Lính canh:
- Dạ!
Đặng Dung:
- Khẩn cấp dàn hàng        
Bảo vệ Chúa công!
Lính canh:
- Tuân lệnh!
(Tướng Nguyễn Súy và tướng Nguyễn Cảnh Dị theo hầu vua Trần Quí Khoách đi ra. Đặng
Dung, Hồng Nương và Lão tiều phu cùng quì xuống).
Đặng Dung:
- Thần Đặng Dung không kịp nghênh giá,
Đắc tội! Đắc tội!
Vua Trần Quí Khoách:
- Ta miễn lễ! Chốn biên khu cũng nên tùy tiện,
Kẻo quân thù chú ý hại vua tôi!
Đặng Dung (đứng dậy, Hồng Nương và Lão tiều phu vẫn còn quì):
- Đa tạ Chúa Công.
Vua Trần Quí Khoách (hướng về Hồng Nương):
- Hồng Nương có mặt nơi đây,
Chắc hẳn có tin tức gì hệ trọng?
Hồng Nương (đứng lên):
- Thần thiếp vừa báo tin giặc đã chuyển quân!
Vua Trần Quí Khoách:
- Giặc đã chuyển quân ư?
Hừ! ta phải lo đường đối phó (hướng về lão tiều phu)  
- Còn...Lão trượng này là ai? Có ở trong quân?
Đặng Dung:
- Muôn tâu...Đây là
Lão tiều phu họ Lê tên Lượng,
Mới xin đầu quân, cùng đánh đuổi xâm lăng.
Lão ở vùng này, quen địa đạo xóm làng!
Ta có thể tin dùng làm tiên phong hướng đạo!
Vua Trần Quí Khoách (quay qua Nguyễn Cảnh Dị):
- Cảnh Dị Tướng quân, ông coi về Tiền quân Trinh sát
Có ý kiến gì? Thu nạp hay không?
Nguyễn Cảnh Dị:
- Muôn tâu...quân số giặc thật đông!
Ta tổn thất rất nhiều, chưa kịp tuyển,
Nay thêm người đầu quân, càng thêm lực lượng.
Mời Lê Lượng Lão phu đứng lên cảm tạ Chúa Công!
Lão tiều phu (đứng lên):
- Lê Lượng xin bái tạ Chúa công!
Vua Trần Quí Khoách:
- Miễn lễ! Ta muốn hỏi
Lão ở vùng này có biết tin đồn
Quân Trương Phụ mới qua đây, không?
Lão tiều phu:
- Bẩm Chúa công...
Từ mấy ngày nay khách thương hồ hốt hoảng:
Đồn đãi nhau rằng, giặc đã kéo về đây.
Chúng muốn chiếm ngay vùng Hóa Châu này,
Để ngăn chặn quân Nam hết đường lui tới!
Đặng Dung:
- Hừ ! Đất Hóa Châu vô cùng thuận lợi,
Công thủ tiến lui, rừng núi bao quanh.
Nếu giặc tấn công chiếm được xóm làng
Ta sẽ bị vây, khốn cùng tuyệt lộ!
Vua Trần Quí Khoách:
- Ta cũng nghĩ thế,
Nên mới chọn Hoá Châu là nơi tử thủ,
Nhưng quân ta, e không đủ giữ thành!
Nay biết tính sao? Cần quyết định cho nhanh!
Nguyễn Cảnh Dị:
-   Thần nhận thấy, giặc chuyển quân thật gấp
Tất chúng tiêu hao sức lực ban đầu.
Ta hãy dùng mưu "Dĩ dật đãi lao"
Đánh úp chúng không sao kịp thở!
Nguyễn Súy:
Bẩm Chúa công...Mưu tướng Cảnh Dị thật hay,
Nhưng số quân ta quá nhỏ!
Giặc đông người, tuy sức khỏe tiêu hao,
Cũng có cơ lật ngược thế cờ cao!
Nên... theo thần...
Ta phải dùng mưu tiêu mòn sức giặc!
Vua Trần Quí Khoách (suy nghĩ):
Hừ! Đáng giận thay bọn gian thần phản bội,
Cha con họ Phan hàng giặc mong phì gia!
Chúng đã cung khai hết lực lượng quân ta.
Nên Trương Phụ mới dám vào Hoá Châu mạo hiểm!
Đặng Dung Tướng quân, ông có kế gì thi triển?
Đặng Dung:
- Bẩm Chúa công,
Tên Trương Phụ bạo tàn hơn quỉ dữ
So với  Tần Thủy Hoàng, tội ác cũng nhiều hơn!
Hắn xếp người thành núi, thành non,
Rút ruột treo cây, nấu thịt làm dầu đốt đuốc!
Lại thưởng tiền cho người bản quốc,
Giết hại nhau, tàn độc lắm thay!
Thần phải đi... bắt sống hắn về đây!
Vua Trần Quí Khoách:
- Bắt sống Trương Phụ?
Trong một đoàn quân vĩ đại,
Với bọn tùy tùng hộ vệ hùm beo!
Ta đâu nỡ...trước hiểm nghèo quá lớn!
Đặng Dung (khẳng khái đứng thẳng lên):
- Bẩm Chúa công,
Thần biết ...bắt Trương Phụ,
Một chuyện làm thật khó!
Còn khó hơn cả chuyện sang Tần!
Ôi sông Dịch xưa, một thuở hào hùng?
Tiễn Kinh Kha...với trùng trùng khăn trắng!
Đặng Dung hôm nay,
Không dám học đòi cổ nhân tranh thắng.
Nhưng quốc thù treo nặng lưỡi gươm mài...!
Thần xin Chúa công một cơ hội rủi may
Cứu vớt dân đen khỏi hầm tai ác!
Vua Trần Quí Khoách:
- Trẫm biết giặc luôn đề phòng canh gác,
Tướng quân một đi theo gót Kinh Kha!
Chỉ tiếc rằng, ta tài đức kém xa
Thái Tử Đan, nên lấy làm ái ngại!
Đặng Dung:
- Bẩm Chúa công,
Kinh Kha một đi không hề trở lại,
Nhưng Đặng Dung này đâu phải kẻ sang Tần.
Trương Phụ chẳng qua là một viên tướng Trung quân,
Trên sông nước, khó có đường tiếp cứu!
Lão tiều phu ( quỳ xuống tâu):
- Muôn tâu...
Giặc từ ngoài vào theo đường biển,
Chúng phải neo thuyền dọc ghềnh đá mấp mô...
Thần biết rõ đường đi nước bước
Xin xung phong hướng dấn lối vô.
Tên Trương Phụ thường hiu hiu tự đắc,
Nên Trung quân thuyền lớn có treo cờ!
Nguyễn Súy:
- Thần xin cùng đi, canh giữ trên bờ,
Để tướng Đặng Dung xuống thuyền bắt giặc.
Quân tham chiến, ngoài Lê Lão dẫn đường thám sát,
Chỉ cần một đoàn võ sĩ tài ba
Ngay đêm nay ta tập kích bất ngờ!
Vua Trần Quí Khoách:
Trẫm chuẩn tấu, tùy các Khanh hành sự!
Tướng Cảnh Dị ở lại cùng ta coi sóc việc quân,
Còn Hồng Nương về quán săn tin giặc
Mong các Khanh cố gắng lập công!
Đặng Dung (cùng Hồng Nương, Lê Lão và Nguyễn Súy chắp tay tạ ơn):
- Chúng Thần xin đa tạ Chúa công!
Vua Trần Quí Khoách:
- Quân hầu!
Quân hầu:
- Dạ!
Vua Trần Quí Khách:
Mang rượu tiễn đưa chiến sĩ lên đường!
Quân hầu (mang rượu ra):
- Tuân chỉ
Vua Trần Quí Khoách (tự tay rót rượu mời từng người):
- Trẫm xin hết lời đa tạ
Những tấm lòng son sắt với giang sơn.
Khi quốc biến, gạt thù nhà riêng lẻ,
Để chỉ còn mục đích: trả thù chung!
Thù dân tộc, thù quốc gia tan nát
Bởi bọn xâm lăng, quân bán nước gian tham
Nào các Khanh hãy cùng ta nâng chén!
Hẹn ngày về, ta lấy lại quê hương!
Các tướng sĩ cùng nâng ly:
- Đa tạ Chúa công!
Vua Trần Quí Khoách:
(trao gươm lệnh cho Đặng Dung)
- Đây gươm lệnh trao tay người kiếm khách
Ngày khải hoàn cả nước vẫn chờ mong.
Trong tuyệt vọng đã sẵn mầm hy vọng
Chén tiễn đưa, không phải chén ly bôi...
Giữa đêm đen đang ẩn náu mặt trời.
Sau đông giá là mùa xuân ấm áp!
Trẫm chúc các khanh:
Đảm lược hào hùng, dũng khí Kinh Kha!
Đặng Dung:
- Đa tạ Chúa Công!
(Đặt lưỡi gươm ngang ngực, ngất cao hào khí)
Kinh Kha hề Kinh Kha!
Xưa tráng sĩ vì an nguy thiên hạ,
Đã xả thân mài kiếm sang Tần!
Nay cũng bởi an nguy xã tắc,
Và lẽ sống toàn dân.
Ta sẽ hết lòng cố gắng,
Đánh đuổi giặc Minh, bảo vệ non sông.
(Tất cả tướng sĩ cùng quỳ xuống, quyết tâm xin thề. Tiếng ngâm hậu trường nổi lên):
-
Đêm đêm mài kiếm dưới trăng,
Nguyện thề dành lại giang san Lạc Hồng!
(tất cả cùng dơ tay):  Xin thề...xin thề...lấy lại quê hương!        
Màn hạ

(1), (2), (3) Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim