Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
               Tìm hiểu  về Tài Chánh & tiền tệ

Lần theo mê-lộ có đường hầm của Hệ Thống Tiền Tệ Mỹ

B.S. Nguyễn Lưu Viên
------------------------------------------------------------
Lời nói đầu

Cả năm qua báo chí Mỹ thường hay nói tới việc mất giá của đồng dollar, tới việc mắc nợ
của chánh phủ Mỹ, rồi hay nhắc tới Federal Reserve, và tới tên của Ông Greenspan. Tôi
không có học ÉcoPo của Pháp, không có học MBA của Mỹ nên mù tịt. Nhưng vì tò mò
muốn hiểu biết, nên tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi đó đây. Thì mới thấy rằng vấn đề tiền tệ
của Mỹ là cả một mê-lộ có đường hầm, (un vrai labyrinthe avec des souterrains) một con
đường máng dện chằng chịt mà nếu đi không có bản chỉ dẫn thì sẽ dễ bị lạc.

Rồi tôi nghĩ rằng trong số độc giả của Y Tế Nguyệt San chắc cũng có một ít bạn đọc mù tịt
như tôi, nhưng không có thì giờ để nghiên cứu đó đây như tôi, nên tôi viết bài này tóm lược
và giản-dị -hóa tối đa một vấn đề vô cùng phức tạp đã kéo dài theo lịch sử của Hoa-kỳ, để
giúp phần nào các bạn ấy hiểu sơ sơ vấn đề về đồng dollar là một thực thể mà mình phải
đốí phó hằng ngày.  Tôi sẽ dùng phương pháp hỏi và đáp (H & Đ) để dẫn đường quý bạn
đi trên mê lộ và trong đường hầm ấy.

Tôi xin lưu ý quý bạn: Vì trong bài có vài ba cụm-từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nên tôi
sẽ viết tắt các cụm từ ấy như sau: FED là Federal Reserve, CPLB là Chánh Phủ Liên
Bang, HCQHK là Hiệp Chủng Quốc Hoa-Kỳ USA  và T.T. là Tổng Thống.     
------------------------------------------------------
I- Tạo ra tiền (create money).

H-: Dollar là tiền chính thức của HCQHK. Vậy ở bên Mỹ cơ quan nào có quyền phát hành
dollar?
Đ-: Câu trả lời tự nhiên và thông thường mà cũng hợp lý là Bộ Tài Chánh của CPLB.
Nhưng trên thực tế thì không hẳn như vậy. Bộ Tài Chánh của CPLB chỉ có quyền phát
hành “coins” nghĩa  là đúc (mint) các đồng tiền One Cent, Five Cents, One Dime, One
Quarter, và một số đồng tiền One Dollar.
H-: Vậy thì cơ quan nào có quyền phát hành giấy xanh dollar?
Đ-: Chỉ có Federal Reserve (FED) mới có quyền phát hành giấy xanh dollar.
H-: Tôi thấy trên giấy xanh dollar nào cũng có hình của một ông Tổng Thống Mỹ, cũng có
chữ ký tên của “Treasurer of the United States”, và của “Secretary of the Treasury” mà
không phải do Department of Treasury của CPLB phát hành là gì ?
Đ-: Vâng, coi vậy mà không phải vậy. Trên giấy xanh dollar nào cũng có in hàng chữ
“Federal Reserve Note” mà chữ note ở đây có nghĩa là “ a paper acknowledging a debt
and promising payment; promissory note”. Tức là tờ giấy xanh dollar nào cũng là một tờ
giấy nợ.
H-: Ai nợ ai?
Đ-: Chánh Phủ Liên Bang nợ FED.
H-: Sao lại có chuyện đó?
Đ-: Số tiên CPLB cần luôn luôn nhiều hơn số tiền thuế của dân đóng góp, nên CPLB phải
mượn. Mượn ai? Mượn FED là cơ quan duy nhứt có quyền phát hành tiền dollar. Mượn
bằng cách nào?   Bằng cách cho phép Bộ Tài Chánh (The Treasury Department) in giấy
nợ dưới hình thức “Federal Bonds” (là giấy IOU     I Owe You) trong đó chánh phủ cam kết
sẽ trả lại với tiền lời) (mà bách-phân lời % interest) là do FED. chủ nợ, quyết định). FED
chấp nhận và in (thí dụ như một tỷ dollars $1 billion) đưa cho chánh phủ. Thế là chánh phủ
(tức là quốc gia, là dân Mỹ) nợ FED một tỷ dollars với tiền lời. Rồi mỗi năm tiền nợ đó
chồng chất lên nên  đến năm 1995 số tiền nợ là $5 trillion (1 trillion là 1 ngàn tỷ) và đến
ngày 16-3-2006 là hơn $8,21 trillion.    
H-: FED là một cơ quan của Liên Bang, vậy CPLB mà nợ FED thì có khác gì là “Tôi nợ Tôi”.
Đ-: Khác, vì  FED  là một cơ quan mang tên là “Liên Bang” (Federal) nhưng không phải
của Liên Bang. FED là một công-ty độc lập của tư-nhân (a corporation independent
privately owned).    
H-: Privately owned thì ai own nó?
Đ-: Federal Reserve (FED) gồm có 12 cái Fed bank địa phương (twelve regional federal
reserve banks) mỗi cái là sở-hữu của những nhà bank buôn bán tư thành viên của cái Fed
địa phương đó Các Fed địa phương có trụ sở ở: 1- Boston, 2-New York, 3-Philadelphia, 4-
Cleveland, 5-St Louis, 6-San Francisco, 7-Richmond, 8-Atlanta, 9-Chicago, 10-
Minneapolis, 11- Kansas City và 12-Dallas.   

Fed Bank của New York có đa số cổ phần (53% of shares). Mà trong Fed bank của New
York, Citibank và J.P.Morgan Chase Co nắm đa số cổ phần. Citibank là của gia-đình
Rockefeller và J.P. Morgan Chase Co là của gia-đình Morgan. Hai gia đình này và gia đình
Carnegie với gia đình Rothschild là thành phấn quan trọng nhứt của một nhóm người mà
học giả Mỹ gọi là “the Robber Barons” (những Nam-tước Trộm Cắp).
H-: Nhưng trong Ban Quản Trị (Board) của FED ở Washington có Ông Tổng Trưởng Tài
Chánh (the Treasury Secretary) và Ông Giám Sát Ngân Khố (the Comptroller of Treasury)
là nhân viên chánh phủ.
Đ-: Vâng, vì vậy mà trên các giấy xanh dollar có chữ ký tên của hai ông này. Và T.T.  Mỹ
cũng bổ nhiệm (với sự chấp thuận của Senate) ông Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị
(Chairman of The Governing Board) của FED, cho nên FED được coi như là một cơ-quan
“gần như chính thức” ( quasi-governmental). Hội Đồng này gồm có 7 người, với nhiệm kỳ là
14 năm, mà Tổng Thống chỉ có quyền thay thế một người mỗi hai năm.

Như vậy, thí dụ như có một ông T.T. muốn sữa đổi FED theo ý của ông,  thì trong nhiệm kỳ
4 năm của T. T, ông chỉ thay thế được có 2 người (vì ông chỉ có quyền thay thế một người
mỗi 2 năm.) Thôi thì cho rằng ông  ấy là một ông T. T. tài ba lổi lạc, vượt qua được những
khó khăn và những chống đối mà ông đã gây ra (vì quan niệm muốn sửa đổi FED), trong
hàng ngũ dân-biểu và nghị sĩ của cả hai đảng, trong chính trường và trong media, để ông
được đắc cử một nhiệm kỳ thứ hai, thì ông sẽ bổ nhiệm được 2 người nữa  trong
Governing Board (nếu được the Senate chấp thuận) thì cho đến gần cuối nhiệm kỳ 2, ông
mới đưa ra được một dự luật sửa đổi, mà chưa chắc dự luật ấy sẽ có được số phiếu cần
thiết ở hai viện để trở thành một đạo luật trước khi ông phải rời khỏi Nhà Trắng.

Mặt khác ban Quản Trị (Board) không kiểm soát được cả 12 Fed bank địa phương và các
Fed bank địa phương phải theo chánh sách của Fed Bank New York  nắm đa số cổ phần.  
Vả lại FED kể từ khi thành lập cho tới nay, chưa bao giờ bị chánh phủ “audit”( soát xét ) vì
năm 1975 dự luật (bill) H.R.4316 cho phép chánh phủ “audit” FED, được đưa ra Congress,
nhưng dự luật không qua được vì không đủ phiếu.

Hãy xem như ông Alan Greenspan đang làm giám đốc công ty (corporate director) cho J.P.
Morgan, thì được T.T. Reagan bổ nhiệm năm 1987 làm Chủ Tịch của FED, giử chức đó
gần 19 năm, đến năm 2006 dưới thời T.T.George W. Bush mới về hưu.  Nghĩa là đã làm
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị FED với bốn T.T. mà trong lúc tại chức ông không bao giờ có
họp báo, không bao giờ cho phỏng vấn, tức là không có việc hỏi han chất vấn lôi thôi.
H-: Trở lại đồng dollar. Bây giờ tôi mới biết rằng CPLB chỉ có quyền đúc coins, còn quyền
phát hành giấy xanh là của FED, mà FED thì bị các nhà bank tư nắm. Vậy trong tổng số
tiền của Mỹ, tỷ-lệ của mỗi thứ tiền là bao nhiêu?
Đ-: Tiền coin của CPLB đúc chỉ là lối một phần ngàn tổng số tiền của Mỹ, cộng với tổng số
tiền giấy xanh của FED phát hành, thành ra cái được gọi là “tiền sờ thấy được” (tangible
currency) chỉ có lối 10% tổng số tiền được cung cấp (American Money Supply)
H-: Sao kỳ vậy? Còn 90% kia là tiền gì ở đâu ra?
Đ-: Phần 90% còn lại là tiền ma (phantom money).
H-: Tiền ma là tiền gì?
Đ-:  Là tiền không có thật, là tiền được tạo ra từ chỗ không có gì hết (money created from
nothing), do cái trò ảo-thuật cho vay (gọi là “loan”) tạo ra.
H-: Thật sự tôi không hiểu được.
Đ-: Thực ra thì cũng không có gì khó hiểu cho lắm. Trò ảo thuật tạo ra tiền từ con số không
(create money out of nothing) dựa trên cái gọi là “fractional reserve banking” do đạo-luật
tạo ra FED (Federal Reserve Act) cho phép. Theo đó thì khi mà nhà bank có trong kho của
nó một số tiền X là tiền thật (hồi xưa là vàng, bây giờ là giấy xanh) được coi như là để dự-
trữ (reserve), thì nó có quyền phát ra 10 X  (tức là có 9 X tiền ma, không có bảo đảm
reserve).

Thí dụ như tôi gởi vào nhà bank trong checking account của tôi $ 10,000 thì nhà bank để
số tiền đó trong kho của nó như reserve, và nó có quyền phát ra $100,000 (tức là trong đó
có $ 90,000 là tiền ma, vì không có reserve bảo đảm) Cũng như thế, Anh B để vào bank
trong saving account $ 20,000, thì nhà bank có quyền phát ra $200,000 (tức có $180,000
là tiền ma). Tổng cộng nhà bank có quyền phát ra $300,000 mà trong đó có $270.000 là
tiền ma.  Rồi khi Anh C đến mượn nhà bank $300,000 (để mua nhà, sửa nhà hay làm gì
khác) thì nhà bank cho ảnh mượn (dưới hình thức loan) $300,000 đó. Anh C sẽ trả cho
nhà bank số tiền đó cộng với lời (x %) dưới hình thức mortgage hằng tháng, trong 15 hoặc
30 năm chẳng hạn, bằng tiền dollar thật, mà Anh C có được nhờ lương của Anh C, hoặc
nhờ việc làm (như phòng mạch) của Anh. Tức là nhà bank, nhờ cái ảo-thuật của “loan” đã
“create money out of nothing”.

Thí dụ trên là lấy cá nhân A, B, C làm mẫu, nên chỉ nói tới tiền với con số ngàn, nếu là nhà
buôn, là nhà hàng, là hãng, là cơ sở sản xuất, thì tiền phải là tới số triệu. Mà cả HCQHK có
hằng bao nhiêu triệu cá nhân, nhà buôn, hãng, xưởng v.v. cân tiền và phải vay tiền của
nhà bank dưới hình thức “loan” thì không có gì lạ khi thấy rằng trong tổng số tiền cung cấp
cho nền kinh tế Mỹ (american money supply) năm 2005 là $9.7 trillion trong đó tiền thật
(tangible currency) chỉ có $ 1.4 trillion, còn $8.3 trillion là tiền ma.  Và sau này nguyên tắc
đó cũng được áp dụng cho việc dùng credit card (Visa, Master Card, American Express v.
v.) với một lải xụất (% interest) còn cao hơn gắp bội.   

II- Một chút lịch sử.
H-: Từ đâu, tại sao, và từ hồi nào mới có cái quái thai đó?
Đ-: Anh nói là “quái thai” thì cũng đúng, nhưng học giả Mỹ thường ví FED như một con
“Hydra”.  Theo từ-điển Hydra là một con rắn có chín đầu (trong thần thoại) hể chặt đầu này
thì nó mọc đầu khác, và nó có nhiều cái vòi (tentacles) rất dài để bắt mồi từ xa.  FED (con
hydra dưới hình thức hiện tại) sanh ra nhờ cái Federal Reserve Act năm 1913 do Tổng
Thống Woodrow Wilson ký (về sau ông hối tiếc). Còn từ đâu và tại sao có nó, thì phải xem
lại hết cái lịch sử của HCQHK vì trong dĩ vãng nó cũng đã bị chặt đầu nhiều lần, mỗi lần lại
sống lại với một tên khác.
H-: Anh có thể tóm tắt cho chúng tôi biết một chút không?
Đ-: Tôi sẽ cố gắng tóm lược tối đa một câu chuyện dài mấy thế kỷ và chiếm vài trăm trang
trong mỗi sách nói đến chuyện ấy mà tôi có dịp đọc.

Ở Trung học chúng ta học trong sách rằng HCQHK hồi xưa là 13 thuộc địa của Anh-quốc.
Đến năm 1774, để phản đối việc mẫu-quốc Anh đánh thuế vào trà (tea tax) một buổi tiệc
trà được tổ chức ở Boston (Boston Tea Party). Trong dịp đó một số người Mỹ giả làm
người Da-đỏ nhảy lên tàu chở trà và vất các thùng trà xuống biển. Bị chánh quyền cai trị
đàn áp, những đòan dân quân được thành lập để chống trả lại, và Ông Benjamin Franklin
triệu tập một Hội Nghị gọi là Congress ở Philadelphia để đưa ra “Bản Tuyên Ngôn Quyền
Của Người Mỹ Có Đóng Thuế” (Delaration des Droits du Contribuable Americain) năm
1774. Sau đó, với sự chiến thắng của đoàn dân quân của Massachusetts, Congress cho ra
Bản Tuyên Ngôn Độc Lâp (Déclaration d’Indépendance ngày 4-7-1776.) Rồi dưới sự chỉ
huy của Tướng George Washington, quân Mỹ đánh thắng quân Anh dưới quyền Tướng
Cornallis ở Georgetown năm 1781, và theo Hòa Ước Versailles năm 1785 Anh-Quốc công
nhận cho HCQHK độc lập.

Nhưng sau này một số học giả, sau khi đọc kỹ lại những tác phẩm của chính ông Benjamin
Franklin viết hồi thời ấy, mới thấy là sự thật phức tạp hơn nhiều.

1-Vì không có tiền vàng hay bạc, nên kể từ năm 1691, các thuộc địa của Anh trên đất  
Mỹ phát hành tiền giấy gọi là “Colonial Scrip” để trả lương cho công chức và để cho dân
xài trong việc mua bán trao đổi hàng hóa trả tiền công v.v. Mà người chủ nhà in lại chính là
Ông Benjamin Franklin, người làm việc cho dân, vì dân, không tìm cái lời cái lợi trong việc
in giấy bạc nên chỉ phát hành đúng theo nhu cầu, cần bao nhiêu thì phát hành bấy nhiêu,
nên không cần lấy thuế của dân để chánh phủ có tiền, mà không tạo ra sự lạm phát
(inflation) hay sự kém phát (deflation) nên giá vật và giá công (product and service) vẫn
được đều hòa và thăng bằng,  nhờ vậy mà các thuộc địa trở nên rất phồn thịnh, không có
thất nghiệp, không có ăn mày, trong lúc mà ở London của mẫu-quốc ngoài đường có đầy
ăn mày và người đi lang thang lêu lổng (The streets are covered with  beggars and
tramps). Thì các chủ nhà bank Anh (the British bankers) lobby triều đình, nên năm 1751,
vua George II ra lệnh cấm các thuộc địa  phát hành tiền giấy, mà phải dùng tiền “coins” của
mẩu-quốc (do các nhà bank Anh đã hợp thành một thể dưới tên là Bank of England phát
hành).  Vua George III kế vị vua cha từ năm 1752 giữ nguyên lệnh ấy. Thì các thuộc địa bị
ảnh hưởng tai hại. Vì thiếu tiền coins (do mẩu quốc siết để tạo sự kém phát deflation),
người làm ruộng hay trồng tỉa không có đủ tiền mướn người làm nên lúa không ai gặt, trái
không ai hái. Người có hãng xưởng không đủ tiền mướn thợ, hàng hóa không được sản
xuất. Cả dân trong một vùng đất rộng lớn của 13 thuộc địa bị nghèo đói không gia đình
nào không bị ảnh hưởng, nên họ đứng lên chống đối chánh quyền và đó là nguyên do sâu
xa của cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1774. Cái”Boston Tea Party” chỉ là giọt nước làm tràn cái
bình.  

2- Việc đầu tiên Congress làm là phát hành tiền giấy được gọi là “the Continental” dưới
hình thức IOU (I owe you.)  nghĩa là giấy nợ mà Chánh Phủ Cách Mạng cam kết sẽ trả lại
bằng tiền coins (vàng hay bạc) sau này. Lối chừng 200 triệu dollars dưới hình thức
“continental scrip” được phát hành để chi phí cho cuộc chiến giành độc lập. Thì mẫu quốc
phản ứng bằng cách in tiền giả để đổ ào ạt vào thị trường các thuộc địa, gây ra môt cuộc
đại-lạm-phát, làm cho đến ngày độc lập tiền “the Continental” hầu như không còn giá trị gì
hết. Thế là mẫu-quốc thua trên chiến trường, nhưng thắng trên mặt trận kinh tế (dính liền
với tài chánh).

3- Vì thấy tiền Continental gần như không còn giá trị, nên các nhà “Quốc Phụ Lập Quốc
(the Founding Fathers), không còn tin tưởng nơi giấy bạc, nên trong Hiến Pháp được viết
ra, các ngài không nói tới tiền giấy mà ghi rằng Congress có quyền “coin money” (thay vì
“create money”) và có quyền vay tiền dựa trên uy tín của chánh phủ (“and to borrow
money on the credit of the United States). Thì các nhà bank của mẫu-quốc Anh cũ, là các
ngân hàng Anh quốc tư nhân; xâm nhập vào HCQHK tạo dựng US Bank theo mẫu của
England Bank. Mà England Bank từ thời thành lập cho đến ngày hôm nay là do các nhóm
tài phiệt tư nhân gốc gác Hòa-Lan (Amsterdam) nắm và chính các nhóm này xâm nhập vào
hệ thống US Bank, khai thác lỗ hở to tát đó (the enormous loophole) mà nói rằng chiếu
theo Hiến Pháp chánh phủ chỉ có quyền phát hành coins, và nhà bank có quyền phát hành
tiền giấy. Vì tiền coins thì cồng kềng và quá nặng khi cần tới nhiều, nên nhà bank in giấy
cam két sẽ trả lại đúng số coins (bằng vàng hay bạc) ghi trên giấy, thì dân chấp nhận coi
những giấy ấy như là tiền.

4- Rồi với thời gian qua, các nhà bank để ý rằng rất ít người trở lại nhà bank để đòi lấy
lại đồng tiền coins. Trung bình hằng năm chỉ có độ 10% người làm việc đó, còn 90% người
còn lại thì không bao giờ thấy đến đòi lấy lại tiền coins. Thì nhà bank nghĩ rằng mình có thể
phát hành thêm 90% nữa mà không sao. Đó là nguồn gốc của cái gọi là “fractional
reserve” dẫn tới việc phát hành tiền ma.

5- Tổng Thống Thomas Jefferson (1801-1809) vị T.T. thứ ba của Mỹ thấy cái nguy hại
cho đất nước và gọi liên đòan các nhà bank (the banking cartel) là ”một con quái vật ăn thịt
ngưởi có cái đầu của con hydra” và Ông nói rằng “Nếu dân Mỹ để cho nhà bank kiểm soát
việc phát hành tiền tệ của mình, thì trước hết bằng sự lạm phát (inflation)  rồi bằng sự kém
phát (deflation) các nhà bank và các công ty (corrporations) sẽ phát triển và tước đoạt hết
tài sản của dân, thì con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia-cư, trên cái lục địa mà cha mẹ
của chúng đã chiếm được.”  Nên năm 1811 Congress không chấp nhận tái bản cho đặc
quyền (renew the charter) cho First U.S.Bank.  Thì chiến tranh với Anh quốc (the War of
1812) bùng nổ. Chiến tranh đưa quốc gia đến sự lạm phát (inflation) và nợ nần (debt). Vì
những lý do đó, Tổng Thống James Madison (1809-1817) vị T.T. thứ tư của Mỹ, phải ký
một đặc quyền 20 năm (a twenty year charter) cho Second Bank of The United States vào
năm 1816.   

6- Tổng Thống Andrew Jacksaon (1829-1837) vị T.T. thứ 7 của Mỹ veto dự luật của
Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the United States. Trong
bản veto Ông viết:” Không có cái gì nguy hại cho sự tự do và độc lập của chúng ta hơn là
khi mà hệ thống nhà bank nằm trong tay của người ngoại quốc. Kiểm soát tiền tệ của
chúng ta, lấy tiền của dân ta, và bắt giữ cả ngàn công dân của chúng ta phải lệ thuộc, thì
còn đáng sợ hơn và nguy hiểm hơn là một thủy binh hay một quân đội của địch”.

Nhưng Ông cũng biết cái veto chỉ là bước đầu của cuộc chiến với nhà bank nên Ông nói:  “
Con hydra của sự đồi bại mới bị chận lại chớ chưa chết”.  Ông ra lệnh cho Ông Tổng
Trưởng Tài Chánh (Treasury Secretary) mới của Ông, chuyển hết tiền deposits của chánh
phủ từ Second US Bank qua các nhà bank của Tiểu Bang (state banks) thì ông này từ chối
không làm. Ông T.T. cách chức ông ấy, và bổ nhiệm một người khác Ông này cũng từ chối
không làm thì T.T. Jackson bổ nhiệm người thứ ba, Ông này thi hành lệnh nên T.T.
Jackson vui mứng mà nói: “ Tôi đã trói được con quái vật rồi” Nhưng ông chủ nhà Bank,
lobby được Senate không chấp thuận người được Tổng Thống bổ nhiệm và gây ra một
cuộc khủng hoảng kinh tế với việc siết chặt sự cung cấp tiền, để tạo ra một sự kém phát
(deflation) bằng cách hồi (call in) các “loan” cũ, không cho thêm “loan”  mới, nên một sự
hoảng hốt tài chánh (a financial panic) xẩy ra trong dân chúng, thì báo chí lại đổ tội vào
đầu Tổng Thống Jackson. Nhưng may thay Ông Governor của Pennsylvania (là nơi có trụ
sở của nhà bank) xuất hiện để ủng hộ T. T. Jackson và phê bình nhà bank rất gắt gao và
kế hoạch làm lũng đọan kinh tế của nhà bank bị phơi bày trước công chúng.

Cho nên đến tháng 4- 1834 Hạ Viện (House of Representatives) với 134 phiếu thuận và 82
phiếu chống, đã hủy bỏ việc tái bản đặc quyền (rechartering) cho Second U.S.Bank.  Đến
tháng 1- 1835 thì T.T. Jackson trả được hết các nợ của chánh phủ.  Rồi ngày 30-1- 1835,
khi T.T. Jackson đến Capitol để dự tang lễ của Dân-biểu Warren R. Davis của South
Carolina thì ông bị mưu  sát bởi một tên thợ sơn “điên”(?) núp trong rotunda cách Ông có
sáu feet bắn hai phát đều trật.  Nhưng sau khi T.T. Jackson đóng cửa nhà bank trung
ương (Central Bank) thì tiền giấy được dùng là những banknotes của của các nhà banks
tư của các Tiểu Bang, hứa sẽ trả lại bằng vàng hay bạc chớ không phải là tiền của  quốc
gia (national currency).   

7- Sau T.T. Jackson, ông tổng thống dám đánh con hydra tiền tệ là T.T. Abraham Lincoln
(1861-1865), vị T.T. thứ 16 của Mỹ. Liền sau khi Ông đắc cử và trước khi Ông nhậm chức
thì Nội Chiến Nam-Bắc (The Civil War) bùng nổ (1860) vì vấn đề “Nô-lệ” (Slavery). Các nhà
bank của vùng Đông (tức là thuộc về Union) đề nghị cho chánh phủ vay $150 triệu với
bách phân lời quá nặng từ 24 tới 26%. T. T. Lincoln từ chối và quyết định chánh phủ sẽ in
tiền lấy. Tiền in ra có tên chính thức là “United Note’ nhưng dân chúng quen gọi là
“Greenback” vì phía sau in bằng mực màu xanh lá cây. Tiền được quan niệm không phải là
một giấy nợ (IOU) với cam kết trả lại bằng vàng hay bạc, mà là một tờ giấy chứng nhận
công lao cho xã hội.  Công lao sản xuất (product) từ lúa gạo, trái cây cho tới vải sồ và vật
dụng, công lao dịch vụ (service) từ thợ, cai, đến giám đốc, công lao bảo vệ an ninh trật tự,
và gìn giữ đất nước, từ lính cảnh sát đến lính và quan trong quân đội, công lao điều khiển
bộ máy cai trị, từ thư ký đến giám đốc đến nguyên thủ quốc gia. Lãnh lương là lãnh giấy
chứng nhận công lao, để mua thức ăn đồ dùng là trao giấy chứng nhận công lao của mình
để nhận lấy món hàng được sản xuất với công lao tương đương của người bán.

Vì tiền được in ra vừa đúng nhu cầu của dân, cho dân, và vì dân, chớ không phải cho hay
vì tư lợi nào hết, cũng như hồi thời Ông Benjamin Franklin lúc Hoa kỳ còn là 13 thuôc địa
phồn thịnh, nên trong có bốn năm tại chức mà ngoài việc chiến thắng lọan Miền Nam được
Anh giúp tiền, và việc giải phóng bốn triệu người nô lệ, T.T. Lincoln đã thực hiện cho nước
Mỹ những công tác vĩ đại như:  xây dựng và võ trang một quân đội lớn nhứt thế giới lúc bấy
giờ, biến Hoa-kỳ thành một nước kỹ-nghệ khổng lồ (industrial giant), kỹ nghệ thép (steel
industry) được thành lập, một hệ thống hỏa-xa xuyên lục-địa được xây dựng, Bộ Canh
Nông được thành lập để thúc đẩy việc chế tạo máy và dụng cụ làm ruộng rẻ tiền, một hệ
thống đại học miễn phí được thành lập nhờ Land Grant College System, lập lên những  bộ
máy hành chánh cho các vùng Miền Tây, tăng mức sản xuất lao động (labor productivity)
lên từ 50 đến 75 %. Tất cả những việc ấy thực hiện được là nhờ có một việc rất giản dị là
chính chánh phủ phát hành tiền. Tức là cái đầu của con hydra tiền tệ đã bị T.T.Lincoln
chặt.

Nhưng đến ngày 14-4-1865, thì một kịch-sĩ tên là John Wilkes Booth ám sát T.T. Lincoln
trong lúc Ông đang xem tuồng hát Our American Cousin trong rạp hát Ford’s Theatre ở
Washington. Thế là con hydra lại có cơ mọc đầu lại. Và đầu nó mọc lại thật, vì dân vẫn
thích có tiền vàng nên tiền greenback mất giá dần dần đối với đồng tiền dollar vàng. Thì
các nhà bank phát hành banknotes bảo đảm trả lại bằng vàng. Dân chúng tin nên dùng
những banknotes đó như tiền thật, cho tới năm 1913 thì một con hydra mới xuất hiện nhờ
luật Federal Reserve Act 1913.  

III- Tân hydra chào đời.

H- : Tai sao có Luật đó?
Đ-: Vì năm 1907 xẩy ra một cuộc “Kinh Khủng  Tài Chánh”  (a Financial Panic) nên năm
1908  T.T.Theodore Roosevelt (1901-1909), vị T.T. thứ26 của Mỹ, cho thành lập cái
National Monetary Commission để chỉnh đốn vấn đề tài chánh. Chủ tịch của Commission
đó là Ông Nghị Sĩ Nelson Aldrich (bên ngoại của David Rockefeller Sr.). Ông Aldrich dẫn cả
commission đi tour sang Âu-châu để nghiên cứu trong vòng hai năm. Rồi khi trở về, Ông
lập lên, một cách hòan tòan bí mật, một nhóm bị gọi là “The First Name Club” vì cấm triệt
để không được nhắc tới Last Name để cho đầy tớ và người làm, dù có nghe trộm được
cũng không biết là ai, để nói lại cho người ngoài và báo chí biết là có những ai. Nhóm đó
gồm có một số người được chọn lọc rất cẩn thận trong giới tài chánh và ngân hàng. Trong
số đó người sẽ đóng vai quan trọng nhất là Ông Paul Warburg (1868-1932) người gốc
Đức di cư sang Mỹ năm 1904, được quốc tịch Mỹ năm 1911, và là thành viên của ngân
hàng Kuhn, Loeb and Company Bankers ở New york (thuộc vào tài sản của Rothschild).

“First Name Club” được triệu tập đến một hòn đảo nhỏ bé, riêng biệt và vắng vẻ có tên là
đảo Jekyll Island, ở Georgia, họp trong chín ngày liên tiếp, để viết một dự luật cải tổ hệ
thống nhà bank và luật pháp tiền tệ (the banking and currency legislation) sẽ trình cho
Congress.  

H-: Trong dự luật có cái gì là đặc biệt?
Đ-:  Có rất nhiều cái đặc biệt. Trước hết là cái tên: vì dân đã quá ghét. nên phải tránh cho
kỳ được cụm-từ “Central Bank “ rồi phải làm sao cho dân tưởng rằng cơ quan này là của
chánh phủ, do nhân viên chánh phủ điều khiển vì vậy mà có danh từ “Federal” và “Reserve
“ (chớ không phải là Central Bank)  và có Governing Board mà ông chủ tịch là do T.T. bổ
nhiệm, và trong đó có hai nhân viên chánh phủ, mà trong thực tế thì Governing Board
không có điều khiển được chánh sách của cơ quan. Rồi phải dùng những danh từ mờ ám
khó hiểu để che giấu thực ý: như trong Lời Mở Đầu (Preamble) của dự luật nói: Mục đích
của luật là để cho FED có thể “cung cấp một thứ tiền co dãn” (to furnish an elastic
currency) nghĩa là gì?

Trong thực tế nghĩa là tiền mà nhà bank đã có thì nhà bank có thể, tùy nghi, thổi phồng
lên.  Rồi như danh từ “tái chiết khấu “(rediscounting) nghỉa là gì?  Trong thực tế nghĩa là:
một kỹ thuật cho phép nhà bank dùng để tăng gia tiền hiện có trong quỹ của nó, bằng
cách cho vay thêm mà không cần chờ cho tới khi các loan trước hết hạn. Kết quả là Luật
cho phép một nhà bank trung ương tư (a private central bank) tạo ra tiền từ chỗ không có
gì hết (create money out of nothing) rồi cho chánh phủ vay số tiền đó để lấy lời và kiểm
soát sự cung cấp tiền cho quốc gia bằng cách bơm phòng nó lên hay hút bớt nó xuống tùy
theo ý muốn (control the national money supply, expanding or contracting it at will.)
H-: Thế mà không có Ông Nghị sĩ hay Dân biểu nào thấy sao?
Đ-: Có chớ. một số thấy và la làng lên .Như ở Hạ Viện Dân Biểu Charles Lindbergh Sr. (bố
của phi công trứ danh Lindbergh) nói:” Luật tạo ra FED là một cái tội pháp luật tệ hại nhứt
của mọi thời đại  Hệ thống tài chánh đã bị lật lại cho một nhóm ngừơi chỉ có biết lợi dụng
Hệ thống là của tư-nhân, được hướng dẫn về mục tiêu duy nhứt là lấy cho được những cái
lợi tối đa từ việc xử dụng tiền của người khác “.

Và cũng còn một số dân biểu và nghị sĩ khác nữa la làng lên nhưng họ không đủ để đánh
bại số dân biểu và nghị sĩ đã bị mua chuộc, đúng như lời của một người trong nhóm
Rothschild ở London nói với một hội-viên của nhà bank ở New York ngày 25-6-1863 rằng:
“Số nhỏ người hiểu cái hệ thống là gì, thì, hoặc là vì thấy có lợi cho mình, hoặc là vì đã tùy
thuộc vào những ân huệ đang được hưởng, nên sẽ không có sự chống đối từ những hạng
người đó. Còn nhóm đa số người không có đủ trí khôn để hiểu, thì sẽ chịu cái gánh nặng
mà không than phiền”

Bởi vậy cho nên ngày 18-9-1913, dự luật được Hạ Viện chấp thuận với 287 phiếu thuận và
85 phiếu chống, rồi lên Thượng Viện thì ngày 19-12-1913, dự luật được chấp thuận với
nhiều sửa đổi bằng 54 phiếu thuận và 34 phiếu chống.  Đến đây lại có một việc lạ nhứt
chưa bao giờ xẩy ra trong lịch sử của HCQHK, là trong cái bản văn của dự luật ở Hạ Viện
có cho tới 40 điểm mà Thượng Viên không đồng ý nên đã sửa lại.  Thì sau khi Thượng
Viên biểu quyết, hai Viện phải ngồi chung lại để sữa lại sao cho cả hai bên đều đồng ý.
Thế mà việc đó được thực hiện chỉ có trong một weekend. Cho nên ngày Thứ Hai 22-12-
1913 dự luật được biểu quyết ở Hạ Viện với 282 phiếu thuận và 60 phiếu chống  rồi cùng
ngày, sang Thượng Viện được chấp thuận luôn với 43 phiếu thuận và 23 phiếu chống.  Và
T.T. Woodrow Wilson (1913-1921), vị T.T.thứ 28 của Mỹ ký thành Luật ngày hôm sau Thứ
Ba 23-12-1913.

Tất cả những việc ấy xẩy ra một cách hết sức mau lẹ và trái ngược với tục lệ và truyền
thống của Quốc Hội và của Chánh Phủ Mỹ là không bao giờ Lập Pháp Congress (Thượng  
và Hạ Viện) thảo luận và biểu quyết một Dự Luật vào lúc gần Noel, để cho Congress
“recess” (thường thường là kể từ 15, 17 Dec.) và các Nghị Sĩ và Dân Biểu về quê của mình
ăn mừng Christmas và New Year, và không bao giờ Hành Pháp (Chánh Phủ) ký một Đạo
Luật vào Noel để cho T.T. về nhà riêng hay “ranch” của mình ăn mừng Christmas và New
Year. Thế mà kỳ này Thượng Viên hợp lại, thảo luận, và biểu quyết ngày Thứ Sáu 19 Dec.
Rồi cả hai viện làm việc với nhau weekend 20-21 Dec, để ngày Thứ Hai 22-Dec cả hai
viện, hợp lại,  thảo luận và biểu quyết dự luật,  và ngày Thứ Ba 23 Dec. T.T. ký thành Luật.

Dân Biểu Lindbergh nói ở Hạ Viện: “Dự luật này thành lập cái “trust” khổng lồ nhất trên thế
giới. Khi mà T.T. ký cái dự luật này (thành Luật), thì cái chánh phủ vô hình của Mãnh Lực
Tiền Tệ sẽ được hợp-pháp-hóa. Dân chúng có thể không biết chuyện đó ngay, nhưng mà
rồi sự biết được chuyện chỉ được dời lại vài năm sau mà thôi”.  Trong lúc đó thì báo chí (đã
ở trong tay của “Mãnh Lưc Tiền Tệ”) thì ca tụng hết lời. Báo New York Times viết bằng chữ
lớn ở trang đầu: “Tổng Thống Wilson ký Dự Luật Tiền Tệ Sự phồn thịnh được tự do và sẽ
giúp mọi giai câp.
H-: Thế là con hydra được khai sanh là đứa con hợp pháp của HCQHK để lớn lên với đất
nước?
Đ-: Hay đúng hơn thì phải nói “để lớn lên với đứa em song thai”.
H-: Nói gì lạ vậy, đứa em song-thai nào?
Đ-: Khi nhóm của Nghị Sĩ Nelson Aldrich có Ông Paul Warburg chuẩn bị viết dự luật FED
để trình cho Congress, họ đã tiên đóan rằng với sự áp dụng luật này thì CPLB sẽ mắc nợ
FED càng ngày càng nhiều nên phải tím cách làm sao cho phép chánh phủ đánh thuế vào
dân để có tiền trả nợ cho FED. thì họ kèm theo dự luật FED một Tu-Chỉnh Hiến Pháp (là
the Sixteenth Amendment) cho phép CPLB đánh thuế income tax vào dân. Lúc ấy bản văn
của Tu-Chỉnh chỉ có một trang giấy và nguyên Bộ Luật về thuế má chỉ có14 trang mà bây
giờ thì nó dày đến 17,000 trang, cũng như nợ của chánh phủ do FED gây ra lớn lên từ số
không cho tới bây giờ là $8.5 trillion.
H-: Bộ trước đó dân không phải đóng income tax cho CPLB sao?
Đ-: Không, trước 1913, dân chỉ đóng thuế income cho Tiểu Bang của mình mà thôi.
H-: Đã được hợp-pháp-hóa rồi, con hydra còn phá phách gì nữa không?
Đ-:  Nói là phá phách thì không hẳn là phá phách, nhưng khi được hợp-pháp-hóa rồi thì
FED hoạt động tích cực hơn, nên gây tai nạn cho dân.
H-: Tai nạn gì?
Đ-: Cuộc Đại Khủng Hoảng (The Great Depression) năm 1930.
H-: Bằng cách nào?
Đ-: Bằng cách tạo ra tiền “out of nothing” qua trò ảo-thuật “loan”. Để khuyến khích dân vay
tiền, nên FED hạ thấp bách phân lời (% interest) thì dân ùn ùn vay loan và loan để có tiền
tiêu xài thả ga. Thì nhà bank thảy vào nền kinh tế quốc gia một số tiền khổng lồ, tạo ra một
cuộc lạm phát (inflation). Rồi nói là để kềm hảm sự lạm phát, thì lại siết chặt việc cung cấp
tiền, thu hồi các loan đả phát ra, không cho vay loan mới, thì dân thiếu nợ phải vội vàng
bán nhà cửa ruộng đất để trả nợ, nên những người có liên hệ với “Mãnh Lực Tiền Tệ
(Monetary Power) có tiền mua những bất động sản ấy với giá rẻ mạt. Còn con cháu những
người thiếu nợ thì trở nên vô gia cư vô nghề nghiệp đi lang thang thất thểu ngoài đường
như hồi Mỹ còn là 13 thuộc địa dưới thời các vua George II và vua George III, trước ngày
Cách Mạng Mỹ (American Revolution) năm 1774.    Nhưng nhờ chánh sách “New Deal” của
T.T.Franklin D.Roosevelt (1933-1945) vị T.T. thứ 32 của Mỹ, và việc lập lên cái FDIC
(Federal Deposit Insurance Corporation) mà tình thế trở lại yên ổn. Giáo sư Milton
Friedman, Nobel Prize về kinh tế, viết: “Nhứt định là FED đã gây ra cuộc Đại Khủng Hoảng
vì thu rút lại một phần ba (1/3) số tiền đang lưu hành từ năm 1929 tới năm 1930”.

Còn Ông Louis T. McFadden Chủ tịch The House Banking and Currency Commttee, thì nói:
“Cuộc khủng hoảng không phải là bất ngờ ngẫu nhiên mà là một việc được trù liệu rất cẩn
thận … Những chủ nhà bank quốc tế tìm cách đem đến đây sự thất vọng để rồi họ có thể
trở thành nhưng kẻ ra lệnh cho tất cả chúng ta”
H-: Thế rồi kể từ đó không có Ông T.T. nào dám đụng tới FED nữa?
Đ-: Có chớ, T.T. John F. Kennedy, (1961-1963) vị T.T. thứ 35 của Mỹ. Ngày 4-6-1963 T.T.
Kennedy ký một Hành Pháp Lệnh (an Executive Order số 11110) cho phép CPLB phát
hành tiền mà không phải qua FED bằng cách cho phép Bộ Tài Chành The Treasury phát
hành những giấy chứng nhận bạc đối với mọi thoi bạc, bạc, hay là mọi dollar dựa trên bản
vị bạc của Bộ (the power to issue silver certificates against any silver bullion, silver or
standard silver dollars in the Treasury)  Nghĩa là một khi Bộ Tài Chánh có trong kho một
ounce bạc nào, thì Bộ có quyền phát hành ra một giấy bạc để lưu hành trong nền kinh tế.
Như vậy T.T.Kennedy đã tung ra $4.3 tỷ dollars cho lưu hành. Thì FED bank của New York
sẽ phá sản, vì dân chúng biết rằng các giấy chứng nhận bạc (silver certificates) của Chánh
Phủ được bạc yểm trợ (backed by silver) chớ giấy bạc của FED (Federal Reserve Notes)
không có cái gì yểm trợ hết. Lệnh số 11110 nói trên còn giúp chánh phủ trả hết nợ của
mình mà không phải qua FED để trả tiền lời, do FED tạo ra tiền out of nothing. Tức là trên
thực tế Lệnh sô 11110 cho CPLB quyền tạo ra tiền của mình có bạc yểm trợ, đúng theo
Điều I, Phần 8 của Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Năm tháng sau, ngày 22-11-1963, T.T.Kennedy bị tên Lee Harvey Oswald ám sát và tên
này hai ngày sau bị Jack Ruby (Rubenstein) giết chết trong Dallas Police Station.
H-: Như thế thì phải chăng là một nhóm tài phiệt cai trị xứ này vì người ta hay nói: “Ai nắm
được tiền là nắm được quyền” phải không?
Đ-: Tôi không dám trả lời là phải hay là không (yes or no) vì tôi không đọc được sách nào
nói rõ là đã có một tòa án nào kết án một người nào trong giới Mãnh Lực Tiền Tệ (the
Monetary Power) hay một vị nào trong nhóm những Nam Tước Trộm Cắp (the Robber
Barons) về tội dùng tiền của mình mua được quyền thế.  Cho nên tôi xin để cho quý bạn
đọc mỗi người kết luận theo ý kiến của mình.  

Tôi chỉ xin phép nhắc lại lời nói của Ông Nathan Rothschild hồi năm 1838: “Để cho tôi phát
hành và kiểm soát tiền của một quốc gia, thì tôi cóc cần biết ai viết luật pháp”, và tôi cũng
xin phép nhắc lại số phận của những vị Tổng Thống đã có gan dám chặt đầu con hydra
tiền tệ: T.T.Andrew Jackson bị mưu sát, T.T.Abraham Lincoln và T.T.John F.Kennedy bị ám
sát.             


Tài liệu được tham khảo:

The Web of Debt by Ellen Hodgson Brown, nxb Third Millennium, Baton Rouge, 2007
http://www.webofdebt.com
The Secrets of the Federal Reserve by Eustace Mullins nxb Bankers Research Institute
Staunton, 1993
Modern Money Mechanics published by the Federal Reserve Bank of Chicago, now out of
print: http://landru.i-link-2.net        
The Federal Reserve is a privately owned corporation by Thomas D. Schauf. 11-28-98 in
http://www.apfn.org/                                             

NLV