Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Thử lạm bàn  về phát triễn một công nghệ xây cất  quan trọng của Việt Nam :

Công nghệ xi măng Việt Nam

đuổi kịp, vượt qua Thái Lan  và xuất khẩu cạnh tranh nổi với Trung Quốc , Ấn Độ
trong tương lai chăng  ?

                                                                                 G S Tôn Thất Trình


Lẹt đẹt mãi vì chiến tranh,  theo sau Thái Lan nhiều về sản xuất xi măng vào năm
1995 , nhưng nay đã đuổi kịp.

Tin tức mới cho biết Hảng Xi Măng Xiêm -  Siam Cement Corp. , hảng công nghệ xi măng
lớn nhất, chiếm 25 % tổng số sản xuất xi măng Thái Lan sẽ khánh thành nhà máy xi măng
Cam Bốt tại tỉnh Kampot  , tên Việt là Cần Bột , trước đây đã đươc vua Cam Bốt tặng cho
chúa Nguyễn qua trung gian của Mạc thiên Tứ ( có khi ghi là Tích) mà   giữa thế kỷ thứ 19  ,
vua Tự Đức đã phải trao trả lại cho Cam Bốt, khi thực dân Pháp tấn công chiếm Lục Tỉnh -
Nam kỳ . Kampot  kế cận Hà Tiên . Đây là nhà máy xi măng tân tiến, Thái Lan đầu tư   3.5 tỉ
bath  (tiền tệ Thái ), trên 100 triệu đô la Mỹ,  dư trù sản xuất 2.4 triệu tấn xi măng một năm ,
khởi đầu sản xuất giai đọan I, vào năm 2009 . Tưởng  nên nhắc thêm là  tổ hợp Xi  Măng
Siam cũng đã góp phần đầu tư vào hai nhà máy xi măng ở Việt Nam.  

Như Việt Nam Cộng Hòa  đầu thập niên 1960 , muốn khởi sự công nghiệp hóa miền Nam,  
lập dự án xây cất nhà máy xi măng cận đại  ở Kiên Lương - Hà Tiên, Thái Lan cũng bắt đầu
xây dựng công nghệ hóa xứ sở, các năm 1960- 62, trong đó có công nghệ sản xuất xi măng

Nhưng mãi đến năm 1972 mới  đề cao chánh sách mới  làm công nghệ hướng về xuất khẩu
, thay cho đường hướng công nghệ hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu , các nhà kinh tế học
đề xướng ở các nước chậm tiến , đang mở mang, vừa thu hồi nền độc lập, sau thế chiến thứ
II
.  Năm 1975, Thái Lan đã bắt đầu trở thành nước xuất khẩu xi măng;  nhưng đến năm
1982, mới thật sự xuất khẩu nhiều. Mức sản xuất xi măng ở Thái Lan năm 1986 là 7.9 triệu
tấn; năm1995  là 34 triệu tấn  Những năm kế tiếp bị ảnh hưởng khủng hỏang tiền tệ Á
Châu, sản xuất xi măng Thái cũng giảm mạnh , như ở nhiều nước Đông Nam Á .  Đến năm
2000, mới phục hồi kinh tế , mức sản xuất xi măng lên lại   25.5 triệu tấn . Năm 2001 đạt 28
triệu tấn…

Tiến triễn công nghệ xi măng ở Việt Nam sau năm 1995

.Để so sánh , sau thời kỳ “đổi mới “ kinh tế ,  năm 1995 Việt Nam chỉ sản xuất được 5.8 triệu
tấn , thua kém cả mức sản xuất Thái Lan 10 năm trước , năm 1986,  là 7.9 triệu tấn  . Thế
nhưng thay vì sản xuất giảm ở nhiều quốc gia Đông Nam Á ( Thái Lan, Mã Lai, Indonêxia  và
Phi Luật Tân .) kể từ năm 1997, xi măng Việt Nam vẫn tăng gia đều đều mỗi năm ở thời kỳ
khủng hỏang tiên tệ Á Châu. Sở dĩ như vậy, vì tư bản ngọai quốc đầu tư vào công nghệ xi
măng Việt Nam chỉ khỏang 30 %,  trong khi ở Inđônêxia là 98.4% , Thái Lan là 56 % , Mã Lai
Á là 48% . Một khi có khủng hỏang ,  tư bản ngọai quốc ngưng bớt sản xuất  hay đóng cửa,
bán rẽ nhà máy .

Năm 2000, Việt Nam sản xuất  13. 3 triệu tấn; năm 2001, 16.1 triệu tấn ; năm  2002 , 19.5
triệu tấn . Theo tài liệu Hội  Quốc Gia Xi Măng Việt Nam VINACA ( Việt Nam National Cement
Association ) , sản xuất tăng mạnh những năm kế tiếp , đạt 23 triệu tấn năm 2003; 25.7
triệu tấn năm 2004, 29 triệu tấn năm 2005 ;32.4 triệu tấn năm 2006 , gia tăng 9.5 % so với
năm trước và  hy vọng gia tăng 11 % mỗi năm cho đến năm 2010, sẽ đạt mức
dự trù là 60
triệu tấn
. Yêu cầu xi măng trong nước năm 2005 là 29 triệu tấn,  bằng mức  cung sản xuất
và ước luợng mức cầu vào năm 2010 là 46.8 triệu tấn.  
Như vậy sẽ phải xuất khẩu 12 – 13
triệu tấn
. Yêu cầu nội địa cũng ước lượng chỉ là 65 triệu năm 2015 và 68 -70 triệu năm
2020 . Do đó phải tiếp tục xuất khẩu.  Xi măng Việt Nam  phải canh tranh trên phương diện
gíá cả lẫn phẩm giá, với các nước  Á Đông đã và đang xuất khẩu . Đặc biệt ở Lào và Cam
bốt  với xi măng Thái Lan hay Trung Quốc .  

Thoáng  qua mức sản xuất xi măng ở hai nước Việt Nam cần cạnh tranh xuất khẩu
tương lai.

Năm 1998,
Trung Quốc đã đứng hạng nhất thế giới , sản xuất 495 triệu tấn  xi măng . Trung
Quốc  cũng dự liệu phế thải hay tân trang 250 triệu tấn ở các nhà máy xi măng xấu, kỷ thuật
xưa cổ và công xuất nhỏ.
Năm 2005 ,Trung Quốc đã sản xuất 1.064 tỉ tấn xi măng,  trong
khi cả thế giới chỉ sản xuất 2.27 tỉ tấn
. Mức sản xuất dự trù sẽ gia tăng 9- 10% mỗi năm cho
đến năm 2010.  Điều đáng chú ý là năm 2006 , Trung Quốc có đến 6000 xí nghiệp sản xuất  
xi măng ,
nhưng 80 % sản xuất các xi măng thuộc lọai tiêu chuẩn thấp kém .

Năm 1998,  Nhật đứng thứ hai , 91 triệu tấn ,  nhưng sau thập niên 1990, sản xuất Nhật có
phần co lại . Ấn Độ thứ ba, 85 triệu tấn vào năm 1998.   Năm 2007, Ấn Độ đã vượt lên hàng
thứ hai , chỉ sau Trung Quốc , hơn  Hoa Kỳ và Nhật Bổn .  Công xuất đã thiết kế ở Ấn Độ
hiện nay , gồm 130 nhà máy  lớn  tổng công xuất 163 .45 triệu tấn và 332 nhà máy nhỏ ,  
11.10 triệu tấn .  Mức sản xuất thực sự của các nhà máy lớn là 117 triệu tấn  và đã xuất
khẩu 6-7 triệu tấn xi măng và clinker . Hàn Quốc ( Nam Hàn )  cũng đã sản xuất 59 triệu tấn
năm 1998 ; kế đến là Thái Lan 34 triệu,  Inđônêxia  23 triệu , Đài Loan 22 triệu , Pháp 19
triệu ….   

Những vùng sản xuất xi măng ở Việt Nam

Nguyên liệu trước tiên chế biến ra xi măng là đá vôi .  Vùng đá vôi phải rộng lớn,  đủ  cung
cấp nguyên liệu này ít nhất trong vòng 20 -25 năm cho một nhà máy công xuất  dưới 2000 t/
ngày  và  30 năm cho một nhà máy công xuất trên 3000 t/ ngày . Một nhà máy,  Nhật thiết
lập năm 1986 ở
Hồi Quốc – Pakistan , công xuất điển hình 5000 t/ ngày , một năm sản  xuất
1.8 triệu tấn xi măng . Nếu công xuất là 6700 t/ ngày, sản xuất lên đến 2.4 triệu tấn .  Đất
sét chứa kim lọai thích nghi cũng là  một thành phần  nguyên liệu phụ quan trọng , kế cận
vùng đá vôi sẽ giảm được phí tổn  chuyên chở và nếu có mỏ thạch cao gần đó thì  lại càng
tốt .
Thach cao- gypsum  là nguyên liệu phụ sản xuất xi măng trắng- white cement. Hình như
nhà máy Kampot dự trù sử dụng  54 000 tấn thạch cao một năm .

Việt Nam có 8 vùng đá vôi phân bố rộng ( năm 1998 , tài liệu kinh tế trong nước chỉ  
ghi 4 vùng ) là
;

•        Vùng núi đá vôi Quảng Ninh- Hạ Long . Vùng  đá vôi này gần Hải Phòng  ở Trảng
Kênh, lại có đất sét thích nghi ; cho nên vào thời Pháp thuộc đã thiết lập nhà máy xi măng
Hải Phòng. Nay đã mở rộng thêm nhiều với công xuất 2.4 triêu tấn / năm Năm 1998 , xây
dựng cụm  nhà máy  Hòanh Bồ ( Quảng Ninh ),  công xuất chung 4.5 triệu tấn /năm

        Vùng núi Hải Phòng , Hải Dương . Nhà máy  Phúc Sơn  ( Hải Dương ) công xuất 2
triệu tấn / năm. Đá vôi ở Hải Dương rất tốt ,  chứa trên 97% CaCO3 .

        Vùng Hòa Bình , Hà Tây , Hà Nam , Ninh Bình , Bắc Thanh Hóa.  Nhà máy  Bút
Sơn ( Hà Nam )
 công xuất 1.4 triêu tấn /năm  . Nhà máy Tam Điệp ( Ninh Bình ) công xuất
1.4 triệu tấn / năm

          Vùng  Nam Thanh Hóa , Nghệ An . Nhà máy Bỉm Sơn sẽ mở rộng tăng công xuất   
và nhà máy Hòang Thạch đã tăng công xuất ( Hòang Thạch II ) . Nhà máy Hòang Mai ,ở
Nghệ An, thiết lập từ năm 1995,  nay có công xuất 1.4 triệu tấn / năm

       Vùng Quảng Bình , Quảng Trị, Thừa Thiên , Huế . Nhà máy xi măng Văn Xá  
Lukvasi,  chỉ có  công xuất năm 2000 khỏang 500 000 t/ năm , nay đã thiết lập   tổ máy thứ
tư , đưa công xuất lên1.2 triệu tấn/ năm

       Vùng Quảng Nam -Đà Nẳng (gần chùa Non nước ? )

•        Vùng Tây Ninh, Bình Phước ( đá vôi ở đâu ? ) . Nhà máy Tây Ninh có công xuất 1.4
triệu tấn/ năm

       Vùng Kiên Giang có Hà Tiên II , công xuất 1.26 triệu tấn/ năm, ở quận Kiên Lương  
Các nhà máy mới đang xây cất đã thỏa mãn yêu cầu xi măng nội địa và có thể gây thặng dư
nhiều  vào năm 2010.

Tháng 5/ 2008, chánh phủ Việt Nam yêu cầu địa phương không cấp môn bài cho phép làm
thêm các dự án mới sản xuất xi măng nữa , cho đến năm 2025 mới xét lại , ở các tỉnh Hà
Nam, Ninh Bình , Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình , Quảng Trị , Thừa Thiên -Huế, Hòa
Bình , Hải Dương , Bắc Giang , Quảng Ninh, Phú Thọ, Yên Bái và Hải Phòng .  

Tuy nhiên đến cuối năm 2008 ,  Việt Nam cũng sẽ thiết lập xong  thêm  một dung lượng  
tổng cọng trên 7 triệu tấn ở các nhà máy Công Thành , Luckvasi Văn Xá , Thăng Long ,
Tây Ninh , Chinfon ( Chinh Phong Đài Loan ) Hải Phòng  , Hòang Long và Tuyên Quang.  
Công xuất nhà máy Công Thành, trung tâm tỉnh Thanh Hóa là 0.91 triệu tấn / năm, đã họat
động tháng 5 năm 2008 . Nhà máy Lukvasi Văn xá Thừa Thiên sẽ  làm xong tổ máy thứ tư ,
công xuất 1.2 triệu tấn/ năm . Nhà máy Thăng Long ở Quảng Ninh cũng sẽ xong vào tháng
6 năm 2008, công xuất 2.3 triệu tấn . Nhà  máy Hòang Long . phía Bắc tỉnh Hà Nam, công
xuất 350 000 tấn một năm và nhà máy Tuyên Quang 250 000 tấn / năm, sẽ xong vào tháng
7 năm 2008. Nhà máy Tây Ninh công xuất 1.4 triệu tấn sẽ xong tháng 10/ 2008 cũng như
nhà máy Chinfon Hải Phòng công xuất 1.4 triệu tấn.    Ngòai ra phải kể đến 17 dự án  nhà
máy xi măng , tổng công xuất 19.42 triệu tấn, sẽ họat động năm 2009 .  18 dự án nhà máy
khác cũng sẽ họat động vào năm 2010 , biến Việt Nam thành một nước thặng dư xi măng ,
như đã kể trên.  Một bước tiến công nghệ. hóa xứ sở đáng  kể. Nhưng thặng dư sẽ gây
nhiều khó khăn cho Việt Nam, vì phải tranh dành thị trường  xuất khẩu với các nước Á Châu
, đặc biệt với Trung Quốc,  đang canh tân hóa 250 triêu xi măng nôi địa, kỷ thuật cũ, thấp
kém , công xuất nhỏ như đã kể trên  và  đang tung xi măng bán rẽ ở nhiều nước trên thế
giới .   

Giai đọan củng cố , cận đại tân tiến hóa, hầu cạnh tranh thắng lợi tương lai ?    

Phải tân tiến hóa kỷ thuật sản xuất, chế tạo xi măng đặc biệt thay thế theo chiều hướng thị
trường, cũng cố hay đào thải các nhà máy cở quá nhỏ , cải thiện  chuyên chở và  khai thác
các nguyên liệu  liên quan đến sản xuất xi măng, thay thiết bị cỗ lỗ xĩ bằng các thiết bị tân
tiến , giảm bớt tiêu thụ nhiên liệu ,  bớt bụi nguyên liệu , lò đốt tân tiến , kiểm sóat phát thải
khí ô nhiễm ,  tự động hóa , tăng cường  năng xuất lao động và các điều kiện sản xuất,
chuyễn vận, ở những vị trí địa phương  

    Tiến trình khái quát chế tạo xi măng là
đập đá vôi- crusher, nghiền nát – grinder  đốt vật
liệu nghiền ở
lò đốt - kiln  ,để sản xuất ra clinker; rồi thêm vào clinker các chất  phụ , nghiền
nát  thành xi măng  . Trung bình một ki lô Ca CO3  cho 0. 56 kg CaO và 0. 44 kg CO2 .  
Clinker  chứa trung bình 64- 67 % CaO ( cọng thêm iron oxide , aluminium oxide v.v… ) .
Làm clinker  cần trộn hóa học
đá phiến lớp – diệp thạch , cát ,đá quặng sắt và đá vôi… đưa
vào lò đốt, có khi đến 1500 độ Celsius .

Vì không có đường rầy xe lữa tốt đẹp chuyễn tải vật liệu đến nhà máy và clinker xi măng  
như ở bang Gujarat , bang sản xuất nhiều xi măng nhất Ấn Độ , Bô Công nghệ Việt Nam
khuyến cáo là nhà máy xi măng  phải kế cận các đường chuyên chở sông hay biển .Ước
lượng chuyên chở thủy vận xi măng khỏang 5- 6 triệu tấn mỗi năm , vào năm 2010 . Nhất là
khi các tỉnh Nam Bộ chưa sản xuất đủ yêu cầu  lớn của thị trường thành phố Sài Gòn  và
đồng bằng sông Cửu Long, còn phải nhập thêm clinker từ các nhà máy miền Bắc hay từ
Thái Lan .  Việc thiết lập nhà máy Tây Ninh và tăng cường dung lượng nhà máy Hà Tiên (
Hà Tiên  2 ) sẽ chấm dứt tình trạng này.

4 điểm chánh cần tân tiến hóa

Theo VINACA ( tổ hợp quốc doanh chiếm gần phân nữa  tổng số sản xuất xi măng Việt
Nam  ), 4 điểm chánh cần tân trang ở  các nhà máy xi măng nước nhà là : mức hửu hiệu
năng lượng dùng , làm điện năng từ  nhiệt lượng , thay đổi nhiên liệu , thay đổi cách trộn  .

Việt Nam đã thay các
lò thổi cao – blast furnace  hiệu năng kém, qua lò đảo ngược được –
reverter furnace
.  Năm 2007 Việt Nam đã thiết kế 31 lò  đảo ngược , tổng công xuất nhà
máy sử dụng lọai lò tân tiến này là 39 triệu tấn  . Năm 2010 sẽ thêm  45 lò đảo ngược nữa .
Tuy nhiên cũng còn đến năm 2010 , 6 triệu tấn xi măng các nhà máy nhỏ độc lập nghiền xi
măng và 3 triệu tấn xi măng còn chạy bằng lò  thổi cao ,  ít hửu hiệu.

Xi măng Portland thường chứa 95 % clinker   và 20-40 % phí tổn sản xuất  là sử dụng năng
lượng  Đến năm 2002 ,  hầu hết các nhà máy xi măng Nhật, Hàn Quốc đã chạy bằng than
đá , thay vì 58% ở Hoa Kỳ và 48% ở Hiệp hội Âu  Châu .

Một hướng cải thiện khác là dùng
lò đốt quay –rotary kiln  thay cho lò đốt trục thẳng - shaft
kiln
. Việt Nam hy vọng đến 2020 , bải bỏ được hòan tòan lò đốt trục thẳng, ít hửu hiệu .
Cũng như áp dụng  chế biến xi măng theo t
iến trình khô -  hửu hiệu nhất hiện nay – efficient
dry process , thay cho các tiến trình nửa khô – semi dry , hay tiến trình ướt – wet process

.    Và sử dụng những nguồn nguyên liệu phụ khác ( tỉ như các phế thải công nghệ luyện
sắt thép , kim khí v.v… ), chế tạo các xi măng đặc biệt hay hạ phí tổn sản xuất .  Các vấn đề
môi sinh: phế thải các khí độc hại ( NOx )   hay khí nhà kiếng ( CO2 ...,),
bụi bặm – dust ,
tiếng ồn ào quá đáng – noise
cũng đang được các  quản lý nhà  máy Việt Nam  lưu tâm, tìm
cách giải quyết thích đáng.

Những tổ hợp công ty lớn thế giới  Lafarge – Pháp , Heidelberg – Đức , Holcim – Thụy Sĩ,
Italcementi – Ý,  Taihleiyo Co.- Nhật,  RMC – Anh Quốc ,  Cemex – Mexicô ….,  hình như
đều có mặt, muốn cộng tác cùng các công ty quốc doanh , hợp doanh  hay tư nhân  xi
măng Viêt Nam; nên Việt Nam có đủ cơ hội cùng họ thương lượng  áp dụng các tiến triễn
mới hay nhờ họ huấn luyện cập nhật mọi phương pháp sản xuất , chuyên chở , khai thác
nguyên liệu , tự động hóa tiến trình…, có khi ngay cả  chế tạo những thay thế xi măng –
substituted cements  đang  thành hình  ..  

                      (  Ca Li , tháng 6  năm 2008 )