Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt


Cần qui họach, khởi sự công nghiệp xây cất nhiều thành phố “ mới “ khang trang,  hay tân
trang khu phố  đô thị, thị trấn từi Nam chí Bắc cho 50 triệu thị dân Việt Nam  ( hiện nay
khỏang 25 triệu còn đầy ổ chuột ),  thử  lạm bàn  về :

     Tiến triễn hai công nghiệp  xây cất căn bản sắt thép và   
nhôm ở Việt Nam :

                                                                                                    G S Tôn thất Trình

 Công nghệ hóa xứ sở  bị chận đứng,  vì chiến tranh khốc liệt bốn thập niên 1950-90, còn
thua kém nhiều  nước Đông Nam Á.

Phát triễn đô thị mới là khuynh huớng cần thiết cho mọi xã hội  đang vươn lên theo đà giảm
bớt  dân nông thôn . Việt Nam  dự trù  nông thôn chỉ còn 40-50 % dân , thay vì 70- 75% hiện
nay ( con số Trung Quốc hay Thái Lan là 40 - 50% ở nông thôn ), nghĩa là tương lai phải tìm  
nơi ăn chốn ở cho 50 triệu dân đô thị mới, cũ . Công nghệ hóa và dịch vụ hóa xứ sở, nhất là
ở các nước Á Châu ngày nay  , sau giai đọan tự túc thực phẩm  ( mà ở Việt Nam đã phải cần
qu
á lâu , trên 20 năm từ 1975 đến 1995   mới thực hiện, sau khi  chiến tranh tương tàn chấm
dứt ),  phát triễn nông nghiệp thành công xuất khẩu : gạo , rồi đến cà phê , cao su , thủy sản
, hột điều , tiêu, trà… , chưa thành công bao nhiêu về các thực phẩm khác  như khoai mì
(sắn) và các chế phẩm như tapioca chẳng hạn, trái cây , rau - đậu xứ mát và chỉ  mới khởi sự
xuất khẩu vài loài  hoa cắt cành ( lan , cúc đồng tiền . lan mokara v.v… ) , Thái Lan đã làm từ
lâu .

Công nghệ hóa xứ sở ,ngoài công nghệ  chế biến nông phẩm,  nông nghiệp nhắm về xuất
khẩu,  cũng chỉ mới triễn khai vài năm gần đây, tập trung trên các xuất khẩu vải vóc , dày
dép , đồ gỗ ( mộc ) , gía trị phụ thấp , cường độ nhân công cao, đẳng cấp hàng hóa thấp ,
mà lại tốn nhiều vật liệu nhập khẩu ,  70 – 80% nguyên liệu như ở các ngành dệt , dày dép ,
đồ gỗ … .Ngành du lịch cũng đã   tân tiến hóa phần nào , mới đây qua mặt Phi Luật Tân ,
nhưng cũng còn thua kém  xa Trung Quốc , Thái Lan , Singapore , Mã Lai Á .

Ngòai hạ tầng cơ sở ,còn phải đào tạo xây đắp một văn minh , văn hóa đô thị , bổ sung văn
hóa nông nghiệp , nhà tranh- lũy tre xanh miền Bắc , nhà lá tả tơi - cầu khỉ miền Nam

Ngòai vấn đề cận đại hóa hạ tầng cơ sở  giao thông ( đường xá , cầu cống , xe lữa,   cảng
biển, cảng sông , phi trường ,điện nước , viễn thông , y tế  ( nhà thương) , học đường,   các
khía cạnh cải thiện xã hội khác v.v…., vấn đề đô thị hóa, trong đó  mọi điều cải thiện đời
sống văn minh  mới  của thị dân ngày nay,  từ đường xá kiểu mới ở các khu phố thị trấn , chí
đến các chung cư , chung hộ , công đô , biệt thự – vi la, gia cư riêng, cơ sở phòng ốc , dinh
thự hành chánh , thương xá, khách sạn , quán ăn sang trọng, các khu tiêu khiển giải trí , viện
bảo tàng, hí trường ca kịch nhạc,  vận động trường thể thao , thể duc… đều phải  được đặt
ra và qui họach hóa cẩn thận ,theo chiều hướng  tân thời trên thế giới . Bài giới thiệu đô thị
kiến trúc thế kỷ 21 Dubai và bài tháp
dinh cơ  lá xanh - green blade , kiểu kiến trúc cận đại
của Jean Nouvel , vừa đọat giải kiến trúc nổi tiếng thế giới Pritzker 2008 . ( Nước ta chỉ biết
đến giải La Mã Pháp , cố kiến trúc sư Ngô Viết Thụ người  họa kiểu dinh Đôc Lập- dinh
Thống Nhất ? , thay thế dinh Tòan Quyền  Norodom cũ ). Thế nhưng lựa chọn mô hình” Phú
Mỹ Hưng “ , phía Nam Sài Gòn  ( đang dự kiến những mô hình tương tự ở Hà Nội ,  Hải Phòng
, Đà Nẳng, Cần Thơ ? ), có hay không những dinh cơ cao tầng ( 45 tầng ? ) kiểu tụ hội “ Ngôi
Sao “ đặc thù cho Việt Nam ở Sài Gòn ,khác hẳn kiểu nhà  nữa Tàu , nữa Việt ,  mô phỏng
kiến trúc Hòa Thân nhà Thanh ở Nghệ An, tuy có thể là một tiến bộ vượt bực  so với  các ổ
chuột thối tha , phố xá  dơ bẩn, kẹt xe , không khí ô nhiễm .v.v…của một đại phố 8- 12 triệu  
người , chỉ mới giải quyết một vài khía cạnh  vấn đề đô thị hóa thôi . Ngay cả hai công nghệ
vật liệu xây cất căn bản ngày nay, là sắt thép và nhom, trái lại với tiến triễn khá công  nghệ xi
măng nước nhà,  còn thua kém các nước đang mở mang Đông Nam Á , không nói đến các
nước đã mở mang  Đông Á  ( Nhật , Nam Hàn , Đài Loan )

 
Việt Nam sản xuất gang , sắt thép thấp kém từ lâu, so với  các nước Đông Nam Á

  Ngòai cát, sạn , đá khối , cẩm thạch ,  xi măng , gương ( ba nhà máy cở nhỏ  dự trù là nhà
máy dùng cát Phú Vang hay Phong Điền – Thừa Thiên., nhà máy Ba Đồn - Quảng Bình và
nhà máy Cát Bi - Hải Phòng) ,  hai vật liệu thiết yếu cho xây cất là sắt thép và nhom , còn
phải  nhập khẩu , sản xuất trong nước kém cõi .

      Tính đến năm 2001 công nghiệp luyện kim nước nhà không tiến triễn bao nhiêu cả .
Năm 2000 , Việt Nam sản xuất được 1,6 triệu tấn thép cán  .So với năm 1990, sản lượng thép
đã tăng 165 lần, nhưng cũng chỉ đáp ứng 2/3 nhu cầu thép ở thị trừờng Việt Nam thời gian
này,  một thị trường  vẫn rất nhỏ hẹp , vì  mức phát triễn kinh tế  thấp kém , suốt cuối thế kỷ
20.  Xí nghiệp liên hợp sản xuất gang thép Thái Nguyên , phân bố gần mỏ sắt Trại Cau, sản
xuất hàng năm 200 000 tấn gang và 150 000 tấn thép . Nhà máy thép VIKIMCO Thủ Đức
điện luyện cán thép , công xuất 20 000 tấn /nặm.  Năm 1996   mới hòan thành nhà máy thép
lớn VINAKYOEI  ở Phú Mỹ,  sông Thị Vãi ,Bà Rịa – Vũng Tàu ,trang thiết cận đại , sản xuất
thép xây dựng trên cơ sở phôi thép nhập ngọai , công xuất thiết kế  là 240 000 tấn /năm. Nhà
máy thép Vật Cách  Hải Phòng  sản xuất 200 000 tấn / năm . Nhà máy liên hợp gang thép
lớn  sẽ khởi công năm 1997 , dự trù hoàn thành năm 2000 công xuất 2 triệu tấn /năm ,  khai
thác quặng  mỏ sắt Thạch Khê  có trử lượng lớn ( 570 triệu tấn ) , hàm lượng sắt  trong
quặng cao trên 60% , nhưng đến 2007 vẫn chưa khởi công.  Ngòai ra, còn có một số lò điện
luyện các thép nhỏ  công xuất dưới 20 000 tấn ở Sài Gòn , Hà Nội, Đà Nẳng , Hải Phòng .

Ngành sản xuất sắt thép của Việt Nam đứng hàng thứ sáu, hạng chót  các nước Đông  Nam
Á Châu - Thái Bình Dương đang mở mang , tuy rằng mỏ quặng sắt nước nhà phong phú.

Mỏ  Thạch Khê -Hà Tỉnh, dự trữ ước luợng mới  là 4 tỉ tấn, magnetit Nà Rủa, Nà Lũng – Cao
Bằng, Tòng Bá - Hà Giang 200 triệu tấn, cao hơn Trại Cau -Thái Nguyên chưa được khai
thác.

Năm 2006 , 6 nước Asean  ( Indonêxia, Malaysia, Phi Luật Tân , Singapore , Thái Lan và  
Việt Nam)  tiêu thụ 38 triệu tấn thép , ít hơn năm 2005,vì Thái Lan giảm bớt tiêu thụ . Nhưng
năm 2007, đã gia tăng lại đến 40 triệu tấn ,  một kỷ lục từ trước đến nay. Mức tiêu thụ ở
Inđônexia tăng lên 18% năm 2007 so với năm 2006 và  mức xuất khẩu thép tăng 6.2 % .  Mã
lai Á  cũng tăng mức tiêu thụ thêm 5.4 % so với năm 2006 và hy vọng sẽ tăng khỏang 7 %
năm 2008 .  Năm 2007, Malaysia vẫn tiếp tục xuất khẩu . Phi Luật Tân tăng 5 % năm 2007 .
Singapore 15% năm 2007 và hy vọng tăng 10% năm 2008 . Chỉ Thái Lan là giảm bớt 6 %.
Tiêu thụ thép ở Việt Nam chỉ  đạt 1.9 triệu tấn vào các năm 2000 – 2005  ,  thua kém xa các
nước Á châu . Mức tiêu thụ
thép cuộn  – hot roll  steel ở  Nhật năm 2005 là trên 101 triệu tấn
, Nam Hàn trên 48 triệu tấn . Thái Lan cũng tiêu thụ 9.5 triệu tấn, gấp ba bốn lần Việt Nam
năm 2005, cả sản  xuất trong nước lẫn nhập khẩu .. Nhưng nhờ tiến triễn kinh tế mạnh hơn,
hai năm gần đây,  nên đã  gia tăng đến 42% năm 2007 so với 2006 . Hy vọng sẽ tăng thêm
15% năm 2008 . Chúng ta đã biết sắt thép là nguyên liệu căn bản cho làm đường xá , cầu
cống , nhà máy điện , các vật dụng gia thất,  chế tạo và xây cất. Sản xuất thép nội địa tăng
2.1 % mỗi năm, nhưng vẫn còn phải nhâp khẩu,  40 % hầu  thỏa mãn  nhu.cầu gia tăng  ,
đặc biệt là  
bán sản phẩm thanh thép nhỏ - billets .

 Nhà máy sắt thép Thái Nguyên TISCO–Thái Nguyên Iron and Steel Corporation, cách Hà
Nội 70 Km , tuy đã được thiết lập từ năm 1959, chỉ mới sản xuất được 120 000 tấn gang  một
năm, theo kỷ thuật cỗ điển cỗ lỗ xỉ  lò cao – blast furnaces .  Ngành sắt thép ít tiến triễn, vì thị
trường  còn quá lo âu  về nông nghiệp nên nhỏ hẹp,nguồn tài chánh thiếu hụt , hạ tầng cơ
sở chưa có , nhân viên quản trị điều khiển khiếm khuyết , thiếu kỷ sư ngành sắt thép , nhân  
công , cán sự chuyên nghiệp sắt thép  chưa đào tạo .  Năm 1994,
Tổ hợp Thép Việt Nam-  
Việt Nam Steel Corporation
 VSC được thành lập  ,  để thúc đẩy  sản xuất sắt thép  . Nhưng
mãi đến năm 2007,  mới  đổi mới thật sự, thay đổi chánh sách trong ngành.  Kế họạch 2007-
2015  qui tụ 4  công ty quốc doanh và hợp doanh là VSC, TISCO,  VINAMSTEEL một hợp
doanh giữa Việt Nam - Úc và VINAKYOEI hợp doanh giữa Việt Nam – Nhật  . Dự án  đề xướng
sản xuất
thép hòan tất – finished steel   dự kiến đạt 6.3- 6.5 triệu tấn năm 2010 , 11 – 12
triệu tấn năm 2015   và 19- 22 triệu tấn  năm 2025 , kể cả 11- 13 triệu tấn
thép dẹp – flat
stee
l và 0.2 triệu tấn thép đặc biệt cho bộ Quốc phòng .  Việt Nam hy vọng sẽ xuất cảng 0.5
triệu tấn thép năm 2025 , nếu vượt chỉ tiêu  sản xuất 24- 25 triệu tấn .  
Về gang – cast iron  ,
dự trù sản xuất 5.5  triệu tấn năm 2010, so với mức 1.9 triệu năm 2005 và 10- 12 triệu tấn
năm 2015.   Mức sản xuất sắt
thép thỏi – ingot iron steel  dự trù   3.5 0- 4.5 triệu tấn năm  
2010 và 6 – 8 triệu tấn năm 2015.  

6 nhà máy lớn dự trù thiết kế từ 2007 đến 2015 ? Hòan tất được bao nhiêu đây và trễ hạn
bao lâu?

Liên hợp Sắt Thép Hà Tĩnh- Steel Combinat dung lượng dự trù là 4.5 triệu tấn , sẽ họat
động năm 2011

Phức Tạp Dung Quất Complex thực hiện hai hay ba giai đoạn , dung lượng 5 triệu tấn một
năm

Posco Hàn quốc- South Korea Posco   sản xuất cuộn thép nóng và lạnh , và 3 triệu tấn /
năm thép mạ kẽm – galvanized steel

ESSA , công ty thép bang Gujurat  Ấn Độ, cọng tác với một công ty địa phương  làm nhà máy
cuộn thép phiến  - plate roll steel mill  . ESSA là một công ty tranh dành với tổ hợp Công Ty
Tata Steel ,cũng của Ấn Độ .  

  
 Nhà Máy liên Hợp  Thái Nguyên gang ( lò cao ) và thép
Liên hợp  Thép Lào Cai -  Lao Cai Steel Combinate.

Cùng những xưởng máy nhỏ khác,  ở Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng , Hà Giang , Yên Bái
và Bắc Cạn. Năm 2010 – 2015 ,sẽ khởi đầu xây dựng   
các lò thép điện- Steel Mill Electric
Furnace ,kích thước lớn hơn  các  lò thép điện đã kể trên
 và các thép đặc biệt dùng chế tạo
động cơ  và quốc phòng
.  Ngòai ra , năm 2007 các hảng sắt thép lớn trên thế giới, ngòai
Posco Hàn ( Nam ) Quốc , cũng muốn đầu tư liên doanh với VSC như BaoSteel Trung Quốc ,
India Tata Steel Ấn Độ  , Evraz Nga .vv…. Theo Kuwabata, nhà kinh tế học chuyên nghiệp về
thép của Nhật ( tháng 9/2007 )  các
lò cao- blast furnace của TISCO, cũng như các lò cao
luyện thép của Trung Quốc ở Thiểm Tây  thiếu hửu hiệu , giá trị sản phẩm kém , tỉ lệ dùng
than cốc – coke cao . Các lò  Tổ Ong cốc – beehive coke oven , có thể thay thế bằng lò  đốt
mini blast  hay các lò cơ khí hóa , nhưng lại cần kỷ sư  chuyên nghiệp giỏi xử lý,  nhà máy
mới hửu hiệu. Chưa kể các luật lệ khắc khe bảo vệ môi  sinh ,  phải được  điều hòa và tuân
thủ  đàng hòang,  tỉ như đo lường các  ô nhiễm không khí phải được thực thi và báo cáo ,
phải tuân thủ các phương pháp làm sạch nước thải nhà máy cũng như tái sử dụng các khí B
và C , thiết bị  các máy tiết kiệm năng lượng
hệ thống dập tắt cốc khô – coke dry quenching
system
 … Những công trình này đòi hỏi một đầu tư  khó tìm ,  10 – 12 tỉ đô la Mỹ vào các
năm 2007 - 2025  , 8 tỉ vào thời gian 2007- 2015.

Việt Nam sẽ sử dụng các mỏ quặng sắt trong nước. Tỉ như mỏ Qui Xá ở Yên Bái và mỏ
Thạch Khê ở Hà Tĩnh là hai mỏ quặng sắt lớn nhất nước . Dự trữ lên đến 328 – 540 triệu tấn
quặng tỉ lệ sắt là 65% , theo các hảng Krupp và Lonrho Pacific Group , có thể khai thác 11
triệu tấn quặng một năm trong vòng 25 – 30 năm , sản xuất 3.5 triệu tấn sắt một năm.  Các
mỏ quặng sắt khác đáng kể là Tuyên Quang , Hà Giang , Nghệ An và Thanh Hóa . Hai mỏ  
Qui Xá  và Thạch Khê có thể  dùng khí dầu thiên nhiên  thuộc tỉnh Thái Bình mà dự trữ ước
lượng là 115 tỉ mét khối khí thiên nhiên, thuộc vùng trũng đồng bằng cửa Sông Hồng - Hà
Nội, Việt Nam đang cố đào giếng mỏ  khai thác, thay cho mỏ khí Tiền Hải  . Nhà máy Thái
Nguyên có thể tăng dung lượng dùng quặng mỏ nước nhà,  từ 250 000 tấn / năm lên đến  2
triệu tấn / năm .  Nhà máy Hà Tỉnh dùng quặng Thạch Khê  theo 3 giai đọan ,  mỗi giai đọan
1.5 triệu tấn /năm. Còn Vũng Tàu – Bà Rịa, Phú Mỹ, dự trù sản xuất 1 triệu tấn gang /  năm (
quặng nào ? ), . Nhà máy Phú Mỹ  là nhà máy cuộn EAF tân tiến nhất Việt Nam , sản xuất
500 000 tấn một năm và  700 000 tấn
cuộn thép lạnh – cold roll steel năm 2009,  nghĩa là1/3
nhu cầu hiện tại nước nhà về lọai thép này và cũng dự trù sẽ tăng đến 1,5 triệu tấn, năm
2012 ,  và sản xuất 3 triệu tấn cuộn thép nóng – hot roll steel,  cũng vào năm 2012 .  

Trử  lượng bauxít Việt Nam , khai thác được lấy nhom ,đứng hàng thứ ba thế giới ,chỉ sau Ghi
nê và Úc, nhưng chưa có một nhà máy nào cả. Nay điện , thị trường , chuyên chở, tài chánh ,
ngọai tệ đầu tư v. v…đã khá đầy đủ để  thực hiện công nghệ cơ bản này?

Theo ước lượng quốc tế, Việt Nam có chừng 8 tỉ quặng bauxít tốt . Phân nữa ở miền Bắc .
Phân nữa trử lượng này ở Tây Nguyên vùng Đắc Nông – Gia Nghĩa và vùng Lâm Đồng – Bảo
Lộc.

Nhom là vật liệu cần thiết cho kỷ nghệ xe hơi, gói , bọc hàng hóa, xây cất ( nhom nhẹ 1/3 sắt
thép ) và mới đây cho ngành điện tử ..Xin nhắc lại là trên thế giới có 3 cách sản xuất vật liệu
nhom-aluminium ( số nhiều là alumina ):

•        sản phẩm sơ khai – primary product  , phân giải điện – electrolyse bauxit, cứ 4 tấn
bauxite thì  cho 2 tấn alumina và làm ra được 1 tấn nhom sơ khai

       sản phẩm trung gian – intermediate products là các cuộn kim lọai – metal foils , tỉ
như lá nhom – foils ,nhom đúc ép- extrusion , đúc khuôn – castings, dây nhom …
.
•        Sản phẩm hòan tất – finished products  cho người tiêu thụ

Tổng số kim lọai nhom đủ lọai trên thế giới hiện nay, vào khỏang 28 triệu tấn/năm. Năm
2004 , nước sản xuất nhiều nhom nhất là Trung Quốc ( 6.5 triệu tấn ) , thứ nhì là Nga (3.6 ) ,
thứ ba là Canada ( 2.64 ). Thứ đến là Hoa Kỳ (2.5 ), Úc ( 1.88 ) Brasil ( 1,45 ) và Na Uy –
Norvege , Norway ( 1.28 ) . Tuy nhiên tính theo mỗi đầu người,  mức tiêu thụ kim lọai nhom
chỉ là 1 2.7 Kgrs ở Trung Quốc, trong khi mức tiêu thụ ở Hoa Kỳ là 35 Kgrs mỗi đầu người.

Trung Quốc không có bauxit tốt như Việt Nam  , nên phải nhập khẩu bauxit tốt từ Úc và Ấn
Độ.  Hảng quốc doanh  nhom lớn nhất ở Trung Quốc là Chalco . Những nhà máy cở nhỏ sản
xuất nhom hàng năm dưới 50 000 tấn, thường không hửu hiệu ; cho nên  Trung Quốc đã
phải đóng cửa nhiều nhà máy nhỏ này  .  Thái Lan cũng không sản xuất nhom sơ khai , tuy
điện Thái Lan rẽ và dồi dào hơn Việt Nam , hạ tầng cơ sở cũng tốt hơn,  nhưng Thái Lan
không có quặng bauxite tốt, khai thác được . Vì vậy, Thái Lan chỉ sản xuất  sản phẩm trung
gian và  sản phẩm hòan tất

Nhà máy dự trù vào thập niên 1990 , khai thác bauxit Lâm Đồng với hảng Alcoa Pháp đã bị
bải bỏ hòan tòan,  vì dự trù dùng  điện khí dầu ,  đưa tới bằng đường ống dẫn– pipes không
thực hiện đươc. Nhưng  hình như tháng 6 năm 2008,  chánh phủ vừa cho phép Vinacomin
dầu tư lại với Alcoa World Alumina  Úc , tổ hợp AWAC  khai thác, tinh luyện1,0 – 1,5 triệu tấn
nhom / năm   khai thác bauxit Đắc Nông – Gia Nghĩa . Phần Vinacomin là 51 % , AWAC  40%
và các cổ phần khác 9 % , nhưng dự án chỉ mới ở giai dọan nghiên cứu khả thi, chưa biết
bao giờ thực hiên. Vinacomin cũng dư trù xây cất 2 nhà máy nhom  khác,  một ở Bình Thuận
– Di Linh ( ? )  công xuất 300 000 tấn , trị giá 750 triệu đô la và một nhà máy khác ở Quảng
Ninh cũng công xuất 300 000 tấn .  Hình như Vinacomin  còn cho biết vào tháng 3/ 2008, sẽ
xây cất nhà máy nhom  Đắc Nông  làm chung   với Chalco – Trung Quốc.  

Chalco sẽ chíếm 40%  cổ phần, đầu tư 300 triệu đô la và Vinacomin 60% . Tổng số đầu tư
lên đến 1.1 tỉ đô la ,  sản xuất 1.9 triệu tấn  nhom / năm , sẽ tăng sau đó đến 4 triệu tấn .
Chalco  còn dự tính đầu tư 1.2 tỉ đô la, làm đường xe lữa lên vùng Tây Nguyên này và một
cảng biển ở   phía Trung và Nam tỉnh Bình Thuận ( ? ), hổ trợ công nghệ nhom Đắc Nông.   
Còn Rusal, tổ hợp nhom lớn nhất ở Nga,  dự trù đầu tư 1 tỉ đô la, sản xuất cả 3 lọai nhom kể
trên, cũng với bauxit Lâm Đồng( Bảo Lộc , Tân Rai ) – Đắc Nông.  

( Viết  xong ở Ca Li cuối tháng 3/2008 , có bổ sung đôi chút tháng 6/ 2008)