Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Thô thiễn vài ý kiến Phát triễn Thượng Du-Tây Bắc miền Bắc, ba tỉnh :

    Lai Châu, Điện Biên và Sơn La

                                                               (G S Tôn Thất Trình )


Không nên lơ là, bỏ ngỏ Tây Bắc, cha ông chúng ta đã dày công xây dựng, bao lần chiến
thắng ngọai xâm .
  
       
Chúng ta nay nói nhiều đến phát triễn biển Đông và biển Tây Việt Nam, nhưng ít biết đến
phát triễn các tỉnh miền Tây Bắc nước nhà, ngòai "chiến công" Điện Biên Phủ, cách đây hơn
nữa thế kỷ,  nhờ sự hổ trợ hùng hậu  của Trung Quốc . Mới đây có  bàn về đập Sơn La, khi
hòan thành,  sẽ có công xuất điện còn lớn hơn cả đập Hòa Bình. Cách đây gần 2 năm giáo
sư Hòang Xuân Hãn đã lưu ý tướng Võ Nguyên Giáp là không nên lơ là phía Tây nước nhà,
từ Tây Bắc đến miền Tây Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên Tây Nam  ( đồng bằng sông Đồng Nai,
sông Vàm Cỏ và sông Cửu Long ), để mặc sức cho Trung Quốc  và Thái Lan tung hoành
phát triễn các vùng láng giềng Lào và Cao Mên ( Cam Bốt ), nguyên thuộc vùng  ảnh hưởng
của Việt Nam, trước khi thành hai nước phía Tây Đông Pháp, hoàn tòan phụ thuộc chánh
sách tòan quyền Hà Nội hay Sài Gòn.  

 Theo Hồ Bạch Thảo, năm 1084, vua Lý Thái Tông đã sai Phùng Trí Năng  đi dánh dẹp Ai
Lao.  Đời vua Lê Thánh Tôn, khỏang năm 1470, quân ta đã  vào thành
Lảo Qua - Luang
Prabang
, chiếm đất đai đến tận sông Trường Sa, gần biên giới Miến Điện, vùng Tam Giác
Vàng ( thuốc phiện ) -Golden Triangle
phía Bắc Chiang Sen  cửa khẩu phía Thái Lan, nơi
biên giới ba nước ,tỉnh cực Bắc Thái Lan là Chiang Rai, tỉnh Shan, Miến Điện ( Myanmar ) và
tỉnh Bo Keo, Lào.Thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), quân Xiệm La ( Thái Lan ) thường
quấy nhiễu vương quốc Bắc Lào Luang Prabang ( Lane Xang kingdom ) mà trước tiên  thủ
đô tên là Muang Swa, rồi đổi qua tên Xiêng Thong,: thời Pháp thuộc  mới có tên là Luang
Prabang,  thủ phủ tỉnh cùng tên . Tỉ như năm 1828, quân Tiêm ( Xiêm La) đã  phá tan các
chùa danh tiếng
Viên Chanh -  Vạn Tương, như chùa chứa hài cốt That Luang Stupa, hay
trước đó phá chùa Vat Phra Keo, đánh cắp pho tượng Phật Xanh Lục đem về Bangkok
(Vọng Các ), nhân một cuộc đột  kích vào lảnh thổ Lào, năm 1778. Cho nên  các xứ Lào đều
xin nội thuộc Việt Nam. Bản đồ nước ta về phía Tây Bắc, mở mang rất nhiều : như các vùng
Tam Động ( thật ra  nhiều hang động hơn nữa  của vùng đá vôi  Vang Vieng, cách thủ đô
Vạn Tượng - Viêng Chanh - Vientiane  chừng 160 km về phía Bắc nước Lào )  và đất Lạc
Phàn; triều đình lập ra hai phủ  là Trấn Tĩnh và Lạc Biên. Sau đó, các xứ Xà Hổ, Sầm Tộ  
Sầm Nứa, Mường Sọan, Muang Lang ,Muờng Duy, Trình Cố, Ngọc Ma, cũng đều xin nội
thuộc. Vua Minh Mạng chia ra làm ba phủ  Trấn Biên, Trấn Định và Trấn Man, nay là các
tỉnh Hủa Phăng, Xiêng Khỏang, Borikhamxay, Khăm Muộn, Savannakhẹt, Lào .  

Hành chánh, diện tích, dân cư ba tỉnh Tây Bắc

Vùng Tây Bắc Thương Du, trước đây,  chỉ có hai tỉnh là Lai Châu và Sơn La. Sơn La được
thành lập năm  1895. Lúc đó, tên tỉnh là Vạn Bú, tỉnh lỵ đặt ở Vạn Bú . Đến năm 1904, tỉnh
lỵ  tỉnh Vạn Bú được chuyễn về Sơn La, nên tên tỉnh cũng đổi thành Sơn La. Lai Châu cũng
chỉ được thành lập năm 1909, khi đó gồm châu ( châu là một huyện ít người ) Lai , châu
Quỳnh Nhai và châu Điện Biên, được tách từ tỉnh Sơn La. Tỉnh  Lai Châu là tỉnh lớn thứ hai
đất nước, sau tỉnh Đắc Lắc ( truớc khi Đắc Lắc chia ra làm hai tỉnh Đắc Nông - Gia Nghĩa và
tỉnh Đắc Lắc, Ban Mê Thuột. Diện tích Lai Châu là 16 919 km2. Sau 1992, Lai Châu lai tách
ra 2, thành hai tỉnh :Lai Châu và  Điện Biên, với sửa đổi đôi chút diện tích các huyện, thành
tỉnh Lai Châu mới, diện tích chỉ còn  9065 km2. Diện tích tỉnh Điện Biên là 7 854 km2. Sơn
La trở thành tỉnh lớn nhất vùng Tây Bắc, diện tích 14 209 km2 .

Ngòai dân tộc Kinh,.khoảng trên dưới 20 % tổng số dân, thường tập trung ỏ các thung lũng,
tỉnh lỵ, còn hơn 20 dân tộc khác cư trú: Tày, Dao, Nhắng, Mảng, Kháng, La Hủ, Phù Lá, Khơ
Mú…Cao nguyên đồi núi tương đối thấp Sơn La là  vùng văn hóa Thái, Thái đen phân bố  
khắp nơi, Thái trắng chủ yếu ở Quỳnh Nhai, Thái đỏ tập trung ở Yên Châu và Mộc Châu.
Khác biệt giữa các nhóm người Thái là trang phục phụ nữ và kiểu cách dựng mái nhà sàn  
Trên núi cao hơn  hết là vùng người Mèo ( Hmong ), định canh  thành bản, làng rải rác ở
các sườn núi, nhưng chiếm khỏang 12 % tổng số dân  Sơn La. Người Mường  chiếm 8 %
dân số tỉnh, tập trung ở huyện Phù Yên, có đến 42 % dân số huyện, ngòai ra còn rải rác ở
các huyện Mộc Châu và Bắc Yên .Tuy các dân tộc này nguồn gốc các tỉnh Tây Nam Trung
Quốc ( Tứ Xuyên, Quí Châu….) cũng như dân tộc Kinh - Việt nguồn gốc phía Nam sông
Dương Tử ) di cư xuống phía Nam,   nhưng cũng thích nghi, hòa đồng với  các dân tộc đã có
tại địa phương. Chẳng hạn ở hang Thẩm Báng ( xã Búng Giao, huyện Tuần Giáo, Lai Châu  
), một hang cổ còn vẻ đẹp nguyên sơ, đã tìm được một số dấu tích người xưa như rìu, chày  
bằng đá. Trước di tích lịch sử Điện Biên Phủ đã có  đền thờ Đại Gíá Đại Vương , một vị
tướng nhà Trần hy sinh dẹp giặc Nguyên ( Mông Cỗ ), ở xã Mường Thanh, tỉnh Điện Biên.
Trên vách đá núi bên bờ sông Đà, gần thị xã nhỏ nhắn Lai  Châu, ở ngã ba hội lưu sông
Nậm Nà với sông Đà, một bia  đá từ năm 1432, đã ghi lại dấu tích  của vua Lê Lợi  trên
đường đánh giặc Minh.     
   
Địa hình núi cao , cao nguyên có khi bề mặt bằng phẳng, chia cắt nhiều thung lũng,
lòng chảo , ngòai lụt lội còn có cả động đất nữa.

Các rặng núi giữa sông Hồng và sông Đà, đặc biệt là dãy Hòang Liên Sơn- Pu Luông , cao
độ trung bình các đỉnh là 1700 -  2800m .Dãy Hòang liên Sơn hùng vĩ, chạy dài gần 80 km ở
Lai Châu, có đỉnh cao nhất nước Phăn Xi Păng, cao 3143m , tuy gần thị trấn du lịch, nghĩ
mát Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Phía Bắc là đỉnh Phu Si Lung cao 3076 m. Dãy núi lớn Sơn La cùng
với Hòang Liên Sơn, phía Bắc kẹp lấy một giải cao nguyên đá vôi ở giữa, chia đôi lảnh thổ
Sơn La thành hai lưu vực sông lớn là lưu vực sông Đà và lưu vực sông Mã. Phía Bắc Sơn La
là dãy núi cao,  độ cao trung bình trên 2000m, trong đó có đỉnh Phu Sa Phin cao 2874m .    
Các rặng núi giữa biên giới Lào Việt, cũng chạy dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam , như
rặng Pu Đen Đinh phía Tây Bắc Lai Châu, đỉnh cao nhất 1886m, rặng Pu Sam Sao phía Tây
Nam Sơn La, có đỉnh cao gần 2000m. Các cao nguyên giữa sông Đà và biên giới Lào Việt
trải dài trên 200km, rộng đến 25- 30 km. Như cao nguyên Sơn La, kéo dài từ Thuận Châu
đến Cò Nòi , cao độ trung bình 500- 700m; cao nguyên Mộc  Châu, kéo dài  từ Yên Châu
đến Suối Rút, cao độ trung bình 1000m . Quá trình cácxtơ yếu, nên nhiều núi không phải đá
vôi chiếm diện tích lớn. Bề mặt cao nguyên tương đối bằng phẳng, có nhiều cánh đồng và
lũng cácxtơ. Địa hình Lai Châu, Điện Biên cũng có độ dốc lớn, mức độ chia cắt sâu và chia
cắt ngang đều lớn.  Quá trình bào mòn và xâm thực cũng mạnh , nên giao lưu với bên ngòai
gặp khó khăn .Xen giữa núi và cao nguyên là các thung lũng hoặc lòng chảo có bề mặt
tương đối bằng phẳng, nhưng chiếm diện tích không lớn. Đáng chú ý nhất là cánh đồng
Mường Thanh, tỉnh Điện Biên . Một đặc điểm địa chất khác là ở vùng Lai Châu - Điện Biên là
hiện tượng động đất.      

   
 Mau chóng thực hiện cải thiện giao thông, nhất là đường bộ, đặc biệt xa lộ  
vòng cung  Tây Bắc,” Quốc lộ Thống Nhất”.  

.             Cả hai tỉnh Lai Châu,  Sơn La chỉ có một đường quốc lộ số 6, khổ đường khá lớn,
nhưng chỉ đến Tuần Giáo; sau đó quốc lộ 6 này , nối liền quốc lộ số 12 nhỏ bé hơn về phía
Bắc ở Mường Lay, nối tỉnh lỵ Lai Châu với cửa khẩu Pa Nam Cung , biên giới Trung Quốc
tỉnh Vân Nam  và  phía Tây Nam nối tỉnh lỵ Điên Biên Phủ, rồi cửa khẩu Tây Trang , biên giới
tỉnh Thượng Lào , Phong SaLy.  Phải cố gắng cải thiện  giao thông đường bộ  vì đường bộ
chuyên chở đến trên 99 %  hàng hóa và gần 92 % khối lượng hành khách ( thống kê năm
2002 ), tuy rằng  đường sông đã hình thành 210 km,  nhờ hồ thủy điện Hòa Bình.  Cũng tính
đến năm 2002, trong số 2401 km đường bộ cả tỉnh Sơn La, chỉ mới rải nhựa  410 km , và rải
đá 629 km.   Đường xá Lai Châu , Điện Biên còn sút kém Sơn La. Năm 2000, liệt kê nhiều xã
“ trắng giao thông “ cô lập; cả hai tỉnh chỉ có 106 xã có đường ô tô đến trung tâm. Lẽ dĩ
nhiên là  giao thông vận tải  Lai Châu tùy thuộc vào việc xây dựng nhà máy thủy điện Sơn
La, một phần diện tích sẽ bị ngập, nhưng có thể cũng cố ngay hai tuyến đường sông Lai
Châu - Nậm Mạ  và Lai Châu - Mường Tè.

        Trên phương diện quốc phòng và du lịch, phải bắt đầu mở rộng  đường bộ, tuyến
cánh cung “Quốc lộ Tây “, vành đai  quốc lộ 10 từ Lào Cai  qua Bình Lư, Phong Thổ; quốc lộ
số 12  nối  dài Lai Châu đến Điện Biên, và nhánh liên huyện , liên tỉnh Lai châu- Mường Tè -
Nậm Khao -Cả Láng  hay nhánh Mừờng Lay- Mường Tong -A Pa Chải, tuyến đường 279
giữa Tuần Giáo nối  liền quốc lộ 6 đến tỉnh lỵ Điên Biên, đến cửa khẩu Tây Trang,  tiến tới
Muang May, Mương Khoa trên sông Nậm Nưa ( Nuoa), Nậm Ou,  tỉnh Phongsaly, Lào. Tuy
địa hình địa thế khó khăn , địa hình cácxte chia cắt núi non, thung lũng,  nhưng không phải
là không khắc phục được mau  chóng, áp dụng kỷ thuật tiên tiến xây cất đường xá , cầu
cống, đường hầm … tăng tốc xe chạy ngày nay, như  các xa lộ liên tỉnh các đảo lớn Nhật
Bổn, các xa lộ cao tốc miền núi  bang Ca Li , Hoa Kỳ, xa lộ  giữa dãy núi  miền Trung nướcÝ,
và mới đây  xa lộ Bắc Nam Thái Lan  Bangkok- Chiêng Mai , Chiêng Rai , nhất là xa lộ xuyên
sơn Đông Tây Đài Loan, từ Đài Bắc, Đàì Trung đến thành phố Hoa Liên  phía đông , một  
vùng quốc phòng quan trọng phía đông , dễ dàng  chống đở phương tiện tấn cống hiện đại :
hỏa tiễn , máy bay , tàu ngầm…. hơn là ở các đảo Kim Môn , Mã Tổ …phía Tây,  qúa gần
lục địa.     

  
Phát huy du lịch sinh thái, thắng cảnh văn hóa hôi hè địa phương   

  Cần  vượt ra ngòai khai thác 10 di tích lịch sử chiến thắng Điên Biên ( các trận địa pháo,
cầu và sân bay Mường Thanh , sông Nậm Rốm, hầm tuớng De Castries, đồi Him Lam , đồi
Độc Lập  hầm chỉ huy quân đội kháng chiến, ở khu rừng  nguyên sinh xã Mường Phăng…,).
Có lẽ không nên quên di tích lịch sử nhà tù Sơn La xây năm 1908, mở rộng những năm
1930- 40  với cây đào Tô Hiệu , khu di tích bảo tàng  tổng hợp  lịch sử văn hóa cộng đồng
các dân tộc Sơn La.  Nhắm vào những danh lam thắng cảnh khác, như hai địa danh đặc biệt
đất nước, đỉnh cao nhất Phăng Xi Păng, điểm cực Tây xứ sở A Pa Chải, các hồ  sông Đà :
hồ đập thủy điện Hòa Bình dài 35 km đường thủy Hòa Bình -Vạn Yên  và sắp tới là hồ Sơn
La ( không rỏ có các đảo nhỏ trong hồ có giống và tồn tại như hàng ngàn đảo thăm viếng
du ngọan tàu thủy nhỏ ở hồ đập Nam Ngum trên Lào? ), hồ thiên nhiên Pa Khoang mênh
mông,rộng 600m ở xã Mường Phăng - Điện Biên , các hang động cácxtơ đẹp như  Pa Thơm,
Điện Biên, Tiên Sơn xã Bình Lư - Phong Thổ, Thẩm Khương xã Chiềng Sinh - Tuần Giáo,
Thẩm Báng đã kể trên, hang động cácxtơ đô thị thảo nguyên Mộc Châu- Sơn La. Đề cao du
lịch sinh thái và  văn hóa dân tộc, ít nhất cũng tương đương với tổ chức du lịch sắc thái Bắc
Thái Lan , vùng Chiang Rai và Chiang Mai.   Như sinh thái đường thủy vùng Mộc Châu,
thưởng ngọan sườn đông cao nguyên đá vôi ẩm  tới mặt bằng thảo nguyên cao 960m với
cánh đồng chăn thả gia súc, đồi chè Tô Múa , bản Mèo - Hmông.  Di tích văn hóa nổi bật là
Chùa Viện Mộc Châu với 1 pho tượng lớn , 8 pho tượng vừa , 56 pho tượng nhỏ đều đúc
bằng đồng , 2 pho tượng bằng thiếc và 1 pho tượng nhỏ bằng ngà voi ; sau đó du khách
còn có thể đến tắm suối nước nóng bản Mèo, xã Hủa La - thị xã Sơn La, có nhiệt độ trung
bình  35- 40 độ C. Tổ chức qui mô hơn, những lễ hội định kỳ hàng năm đa dạng, phong phú,
mang đậm bản sắc dân tộc. Như Lễ  Hạn Khuống của nguời Thái  và một số dân tộc Tây
Bắc,  giữa mùa thu với hát, truyện kể tao nhã;  Lễ mừng măng mọc đầu mùa mưa  của
người Mảng, Kháng, La Hủ, Phù Lá, Khơ Mú, khi búp măng mới nhú lên; Lễ Tết cơm mới
của người La Hủ; Lễ Cúng Bản của người Cống; Lễ hội Hoa Ban , trong Nam là hoa Móng
Bò tiểu mộc hay dây leo, ở Mỹ gọi là Orchid Trees,  thuộc tông thực vật Bauhinia, ở Lai
Châu thường là đại mộc cao đến 6- 15 m,  cánh hoa trắng hay tím có sọc đậm , rụng lá theo
mùa,  lòai Bauhinia variegata L .,  vào mùa hoa ban nở trắng rừng. Lập những khách sạn  
lớn , tiếp đón du khách tân tiến hóa theo kiểu kiến trúc nhà sàn các dân tộc ,  như Pháp đã
làm ở Sapa, ở Tahiti , ở Dakar - Senegal, tổ chức những thú tiêu khiển đồi núi ít nhất cũng
bằng được Thái Lan,  như
trượt bè - raft  trên thác sông suối, leo núi cao ( Phan Xi Păng ,
Phu si Lung, Phu sa Phin,  Pu Đen Đinh …), cố nối liền phi trường quốc tế Nội Bài Hà Nội -
Lai Châu - Điện Biên với Luang Prabang , Viên Chanh bằng đường hàng không mỗi ngày
một chuyến , như hàng không Thái Lan đã làm từ lâu , ở các đọan đường du lịch dân tộc
BangKok-Chiang Rai, Bang Kok- Chiêng Mai, miền Bắc Thái Lan     

  
Trước tiên khai thác tài nguyên thủy văn dồi dào Tây Bắc

Tuy có hai đập thủy điện Hòa Bình ( bắt đầu họat động năm 1994, công xuất1920
megawatts ) và Sơn La ( đã trễ hơn thời hạn dự trù bắt đầu họat động là năm 2005, công
xuất dự trù là 3600 meagawatts) ở dòng chính sông Đà,   bằt nguồn từ huyện Cảnh Dương,
Vân Nam trung Quốc:  dài 1010km , phần Việt Nam  là 570 km, qua Lai Châu , Sơn La và
Hòa Bình, rồi hội lưu  với sông Hồng ở Việt Trì, Phú Thọ;  tài nguyên thủy văn, thủy điện ba
tỉnh Tây Băc vẫn chưa khai thác, tận dụng. Chẳng hạn hai phụ lưu quan trong của sông Đà
ở Sơn La, bên trái là sông Nậm Chiến dài 51 km, bên phải là sông Nậm Bú  bắt nguồn  từ
dãy núi Su Xung Chảo Chai, cao độ 1100 m  còn nhiều tiềm năng thủy điện,  trong số 96 địa
điểm có thể xây dựng thủy điện, điều hòa lụt lội, tưới tiêu mùa khô hạn, điện hóa làng ,bản
nông thôn.  Đoạn sông Mã chảy trong tỉnh Sơn La dài 93 km, diện tích lưu vực khỏang 4000
km? với 11 phụ lưu lớn.  Lai Châu, Điện Biên  còn có các sông khác  là Nậm Na , Nậm Mức ,
Nậm Ma … cũng chưa khai thác gì tiềm năng thủy điện, thủy văn .

  
Khai thác tài nguyên khóang sản tầm mức xuất khẩu hay bán ra ngòai tỉnh, cần
khảo sát tăng thêm trữ lượng.

  Hiện tại Lai Châu cũng như Điện Biên, Sơn La đã biết một số khóang sản , nhưng phần
lớn chỉ  khai thác  tiểu thủ công nghiệp địa phương , như đồng niken, than, đất hiếm, sắt, bô
xít, vàng , pyrit, cao lanh, đá xây dựng, nước khóang. Đồng niken ở Bắc Yên - Sơn La có trử
lượng đến 20 triệu tấn  Sắt cũng phổ biến rộng rải trên tòan tỉnh Sơn La như ở Mường Trai (
Mường La ), Mường Bon ( Mai Sơn , Bản Chanh ). Đồng ở Vạn Sài ( Chiềng sự - Yên Châu )
, Cò Muồng ( Yên Châu ), Qui Hướng. Bô  xít ở Nà Cò, Bản Pang ( Chiềng Đen ). Đất hiếm  (
có thể có cả quặng uranium , nguyên liệu điện hạt nhân ? ) ở Phong Thổ có trử lượng 9 000
tấn. Cao Lanh ở Huổi Phạ, trử lượng 60 000 tấn , chất lượng rất tốt, thích hợp cho sản xuất
đồ sành, đồ sứ tương đương đồ sành sứ nổi tiếng Hải Dương. Đặc biệt là  than mỡ Nà Sang
- Điện Biên ( than Quảng Ninh là
than gầy - anthracite ) trử lượng  160 000 tấn vĩa than m
nằm gần mặt đất , khai thác tương đối dễ dàng . Sơn La có khỏang 10 mỏ than trử lượng
tổng quát trên 40 triệu tấn, 50% là than mỡ luyện
cốc - coke , ở Suối Lúa - Phù yên , Núi Tó
, Mường Do - Phù Yên, Mường Lưm - Yên Châu . Đáng chú ý nhất là mỏ than  Suối Bàng -
Mộc Châu,  trử lượng 2400 000 tấn.  Tuy nhiên khác với công nghệ du lịch,  giao thông và
thủy điện, kỷ thuật, kinh nghiệm tìm kiếm tăng thêm trử lượng, để khai thác khóang sản đại
trà, vượt kích thước nhỏ chỉ tiêu thụ địa phương,  còn yếu kém;   đào tạo giáo dục nhân
công,  cán bộ kỷ thuật chưa đủ , chưa thích nghi  liên tục cải thiện cho kịp đà tiến hóa thế
giới.  Tuy việc thiết lập nhiều trường trung học kỷ thuật cũng như đại học kỷ thuật Sơn La
hay các công ty ngọai quốc đầu tư thay quốc doanh cỗ lỗ sĩ , cũng có cơ bổ khuyết nay mai
?

   Một nền nông nghiệp  bán  ôn đới,  á nhiệt đới đặng chăng ở Tây Bắc? .

    Khí hậu các tỉnh Tây Bắc còn lạnh hơn cả Tây Nguyên , vùng Ngược Thanh Nghệ Tĩnh,
vùng Trung du hay đồng băng sông Hồng, nghiêng về khí hậu bán ôn đới,  á nhiệt đới hơn ,
nhất là khi địa hình  cao trên 500m . Sơn La chẳng hạn  nhiệt độ trung bình chỉ 21 độ C,  
tháng nóng nhất nhiệt độ trung bình 24 độ C  ( Hà Nội 28.5 độ C ) và tháng lạnh nhất  xuống
tới 14.4 độ C ( Hà Nội 16.6 độ C ). Mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ tối thấp ở các thung lũng thấp có thể xuống dưới O độ C , nhưng nhiệt độ tối cao
có thể đạt 42 độ C . Như vậy đủ lạnh khắp nơi , thỏa  mãn yêu cầu lạnh  nhiều lọai cây ăn
trái ( ăn quả ) xứ mát, ôn đới .

       Tiếc thay vùng Tây Bắc chỉ mới phổ biến các lòai cây ăn trái cổ truyền như
táo ta ( táo
tàu )- jujube
,  nhãn vải, chuối, mảng cầu , na, thơm dứa , hồng trái kaki và những  lòai ,
giống cây trái họ
hoa hồng- rosaceae ( táo  tây hay pom, mơ ,  mặn tây , đào lông …) phần
lớn từ Vân  Nam   yêu cầu lạnh nhiều , ít cải thiện năng xuất cũng như phẩm  giá, nhất là
trên phương diện hương vị thích  hợp thị trường tiêu thụ  xuất khẩu, ít dầm bập khi chuyên
chở xa và tồn trử lâu dài hơn .Phải thử nghiệm các giống lai hai lòai mơ và mận, hay mận và
đào trần - nectarine hay lai ba loai mận, mơ và đào lông - peach á nhiệt đới đã phổ biến
thương mãi  đầu thế kỷ 21 .  Chú trọng vào những cây trái xuất khẩu được họặc đã biết,
như  các giống nho ăn tươi trắng, đỏ nâu Ca Li hay Florida , Texas ,
trái bơ - avocado lọai
vùng mát, hồng nhung , hồng xiêm, sapôchê ma mây, sung ngọt ( sung tây ) ,
mảng cầu ( na
) tây - cherimoya , mâm xôi ( ré, sum ) đỏ vàng , đen- raspberries, kiwi -dương đào  ruột
xanh , ruột vàng , ruôt đỏ , đu đủ vùng cao kháng bệnh đốm vòng v.v… Cũ
ng nên nghĩ đến
những cây hạch quả
( dẽ -chestnut , mày -carya , hồ đào óc chó- walnut . dẽ bi - macadamia
….;  phát triễn đại trà các lòai nấm ăn , tươi hay sấy khô  vùng mát như nấm mỡ (
champignon de Paris, nấm portobello Ý… ),  mộc nhĩ, ( nấm mèo ) , đông cô , loa kèn vua
chúa , nấm đinh. Có thể theo lề lối tiểu canh ( 2- 3 ha cho mỗi gia đình ), nhưng phải áp
dụng kỷ thuật tân tiến ,  giống mới Cao năng ; chẳng hạn  đóng nọc trụ giăng dây, xen tĩa
mỗi năm …, nhưng phải liên canh , liên địa thành vườn “ lớn “ đại trà, đủ súc cung cấp số
lượng chuyên chở tối thiểu hay đủ chạy  các nhà máy bảo quan, bao bì , chuyên chở xa .
Biến vùng Tây Bắc thành vùng cây ăn trái xứ mát,  trao đổi với cây ăn trái nhiệt đới vùng
đồng bằng, châu thổ vùng thấp duyên hải .    

      Theo một  thể thức tương tự,  có thể đổi hướng ngành trồng rau đậu, hoa kiểng á nhiệt
đới, cung cấp rau hoa xứ mát cho các vùng nhiệt đới, như đã làm ở Đà Lạt, Bảo Lộc,  đối với
duyên hải miền Trung? . Vùng Tây Bắc, nhiều hồ thiên nhiên,  đã có hay sắp có  hồ thủy
điện lớn Sơn La - sông Đà , tuy có thể khuếch trương nuôi cá bè lọai cá da trơn, cá chép  
sông Mê Kông , những nên nghiên cứu, phổ biến thêm các lọai cá xứ mát đã thuần dưỡng
được,  tỉ như
cá mè - trout , cá hồi - salmon sinh sản không cần giai đọan nước mặn , nguồn
gốc Phần Lan ( ? ) .

      Đồng thời cũng nên duyệt xét tai sao ngành nuôi dê, cừu, bò, trâu sửa hay thịt,  vẫn
chưa được dân tộc bản làng  hay kinh áp dụng,  công nhận,  thực thi rộng rải như ở nhiều
huyện Trung Quốc , trên những cao nguyên thảo nguyên, thung lũng bằng phẳng, sườn đồi
núi . Và tai sao năng xuất cây lương thực ( lúa, ngô , sắn … ) lại có năng xuất kém cõi nhất
đất nước , cũng như tại sao  cây chè ( rà ) dù nay đã có chế biến được trà đen, cà phê
arabica rất thích hợp đất đai, khí hậu Tây Bắc mà diện tích không mấy tăng gia,  từ nhiều
năm nay. Luôn cả  cây cao su thiên nhiên , Trung Quốc đã phát triễn  nhiều ở Luang Nam
Tha và Phongsaly , nước Lào kế cận;  trong khi Việt Nam lại có kỷ thuật tiểu điền , xen canh
hoa màu, và thế nông lâm cao su vừa cạo mũ vừa cung cấp gỗ tốt  có thể thích hợp hơn,
cho thị trường trong nước và xuất khẩu ?

              ( Irvine, Ca li -Hoa Kỳ , ngày 14 thán
g 10 năm 2008 )