Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
HUY CHƯƠNG TỔNG THỐNG VỀ TỰ DO 2009

NOBEL HÒA BÌNH 2006: VI TÍN DỤNG CHO NGƯỜI NGHÈO

Trần Văn Đạt, Ph. D.


Ngày 12-8-2009, Tổng Thống Barack Obama trao Huy Chương Tổng Thống Về Tự Do
(The Presidential Medal of Freedom), một loại danh dự dân sự cao quý nhứt của Mỹ, cho
16 nhân vật xuất sắc nổi tiếng không những ở nước Mỹ mà gồm cả thế giới. Xin nhắc lại
Huy Chương Tự Do này đã được Tổng Thống Harry Truman thành lập năm 1945 cho
những người nước ngoài có công trong Thế Chiến II, sau đó Tổng Thống John F. Kennedy
đã ký Sắc Lệnh Hành Pháp số 11085 ngày 22-2-1963 đổi thành Huy Chương Tổng Thống
Về Tự Do (Romero, 2009). Đặc biệt năm nay, Huy Chương cao quý này cũng được tổng
Thống Obama trao tặng cho
Giáo Sư Mohammed Yunus, người sáng lập và quảng bá
ngành vi tín dụng dành cho người nghèo mà không cần bảo chứng khi đi vay mượn, đã
góp phần rất lớn làm giảm nghèo khó tại nhiều nước đang phát triển.

Cũng cần nhắc lại ngày 13-10-2006, Ông Mohammed Yunus, Giáo Sư kinh tế học và Ngân
hàng Grameen ở Bangladesh đã được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình trị giá 1,4 triệu Mỹ
kim, vì họ đã có công lớn trong công tác làm giảm đói nghèo ở nước này, qua chương trình
cung cấp vi tín dụng cho những người dân thật nghèo không có ruộng đất và của cải để
thế chấp. Theo thống kê của cơ quan FAO và Ngân Hàng Thế giới, năm 2008 có khoảng
935 triệu người nghèo đói trên thế giới. Trong khi đó, theo tin tức báo chí, thế giới có độ 1 tỉ
người béo phì mà phần lớn số này ở các nước phát triển. Tiêu chuẩn nghèo của Ngân
Hàng Thế Giới là thu nhập của một người mỗi ngày tương đương một Mỹ kim. Áp dụng tiêu
chuẩn này, Việt Nam có tỉ lệ người nghèo giảm từ 58% trong 1993 xuống 37% 1998, 29%
2002 và 20% 2004. Độ 90% nghèo đói xảy ra ở nông thôn mà hơn 50% ở dưới ngưỡng
nghèo đói (<1 đô la) do chính sách phát triển kinh tế bất tương xứng hiện nay gây ra.
Trước năm 1975, Đồng Bằng Sông Cửu Long là một vùng trù phú nhứt nước, nhưng cũng
theo báo cáo trên trong năm 2002, vùng này có mức nghèo đói (23%) cao hơn Đồng Bằng
Sông Hồng (13%) và vùng Duyên Hải Miền Trung (22%) (Lâm Văn Bé, 2006). Giải Nobel
Hòa Bình năm 2006 và Huy Chương Tổng Thống về Tự Do rất có ý nghĩa khi thế giới đang
nỗ lực tìm các giải pháp thích đáng cho vấn đề xóa đói giảm nghèo tại các nước đang phát
triển, nhứt là ở châu Á và châu Phi.

Giáo sư Yunus quan niệm rằng
sự nghèo đói hiện nay trên thế giới không phải do
chính những người dân nghèo, mà do từ các định chế và chánh sách của nhiều
chính phủ; cho nên, chỉ cần cải tiến hoặc tháo gỡ các định chế và chính sách này sự
nghèo khó sẽ tự biến mất
(Yunus, 1995). Người dân nghèo chỉ cần được giúp một số vốn
nhỏ để họ có thể tự phát triển và có cơ hội hoạt động với khả năng của mình để vươn lên
đời sống tốt hơn. Vì vậy, GS Yunus và cộng sự viên đã bắt đầu từ 1976 dự án nghiên cứu
cung cấp một số vốn nhỏ, trung bình từ 50 đến 100 Mỹ kim mỗi đầu người cho dân nghèo
để kinh doanh. Chương trình này rất thành công, đã gây tiếng vang trong nước, được
chính phủ Bangladesh công nhận và giúp đỡ một phần vật chất cho hoạt động trong giai
đoạn đầu. Chương trình lớn mạnh dần, được nhiều quốc gia trong vùng như Ấn Độ,
Pakistan, Sri Lanka… chú ý đến, áp dụng hoặc cải tiến cho phù hợp với điều kiện từng
nước.

Năm 1983, Chương trình vi tín dụng được ngân hàng hóa và trở thành Ngân Hàng
Grameen Bangladesh, có tầm vóc của cơ quan tài chánh với mục đích mở rộng địa bàn
hoạt động cho cả nước và cung cấp tín dụng cho nhiều khâu khác nhau, nhưng đối tượng
vẫn là người thật nghèo, đặc biệt phụ nữ. Năm 1994, GS Yunus nhận được
Giải Thưởng
Lương Thực Thế Giới
(World Food Prize) cao quý từ Hoa Kỳ. Giải thưởng này đã chính
thức công nhận công lao của Ông góp phần làm giảm thiểu nạn nghèo đói ở Bangladesh.
Trong khi đó, một số cơ quan quốc tế và nhiều nước phát triển đã lên tiếng chỉ trích
chương trình vi tín dụng của Ngân Hàng Grameen vì không có hiệu quả kinh tế và còn tùy
thuộc vào trợ cấp bên ngoài. Về diện kinh tế, các chỉ trích này hoàn toàn đúng lúc ban đầu,
nhưng về mặt xã hội đạo đức không hợp lý. Đây là một loại ngân hàng dành cho người
nghèo khó, chứ không phải cơ quan tài chánh cho vay kiếm lời; cho nên cần phải quan tâm
về cả hai yếu tố xã hội và kinh tế cùng một lúc để giảm nghèo. Vì thế, giải Nobel Hòa Bình
mới đến tay GS Yunus hơi muộn!  

Đây là một thành công lớn cho các nước đang phát triển, đáng cho Việt Nam noi gương để
giúp đỡ người dân hiện đang nghèo khó cải tiến đời sống tâm tối vượt khỏi tầm tay của
mình.

Lịch sử Ngân Hàng Grameen (Trần Văn Đạt, 2002): GS Yunus, sinh năm 1940 ở
Bangladesh, tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế học ở Đại Học nổi tiếng Vanderbilt, bang Tennesse
của Mỹ và trở về nước dạy học từ 1972 ở Đại Học Chittagong, miền đông của nước này.
Trước thảm trạng thiếu đói lan tràn trong nước Bangladesh vào năm 1974 gây ra gần một
triệu rưởi người thiệt mạng, GS Yunus băn khoăn về cảnh tượng đen tối của nước ông, đã
chợt nghĩ ra rằng
sự thiếu thực phẩm gây ra nạn đói cho người dân nghèo là do họ
thiếu khả năng tài chánh để mua thức ăn
. Năm 1976, Ông và một số cộng sự viên bắt
đầu thực hiện một dự án nghiên cứu về cung cấp vi tín dụng tại làng Jabra gần nơi Ông
đang dạy học. Do báo cáo của sinh viên cho biết nông dân muốn dệt vải nhưng thiếu vốn
để làm ăn, nên họ phải đi vay mượn không chính thức với tiền lời cao đến 10% mỗi tuần,
ông liền xuất tiền túi 27 Mỹ kim chia cho 42 người vay để mua con thoi giúp họ dệt vải và
sau đó họ hoàn tiền cho Ông rất nhanh (CNN, 2006). Ngoài ra, Ông còn đứng ra bảo đảm
và vay tiền từ ngân hàng thương mại cho nhiều nông dân nghèo để họ có vốn nuôi gà,
nuôi bò sữa, làm đồ gốm, trồng rau, dệt vải…, họ hoàn tiền lại cho Ông đúng hạn kỳ. Năm
1983,
Ngân Hàng Grameen Bangladesh được thành lập, có tư cách pháp lý của một ngân
hàng thương mại, nhưng
chuyên về cung cấp tín dụng cho người nghèo. Theo tiếng
Bengali, Grameen có nghĩa là “làng quê”. Vào cuối 1992, số vốn cho vay của Ngân Hàng
lên đến 149 triệu Taka (2,13 triệu Mỹ kim) và tỉ số người đi vay của Ngân Hàng này và cơ
quan tín dụng - tài chánh của chính phủ Bangladesh là 88:12 (Dadhich, 1995).

Năm 1989, GS Yunus và nhóm công sự viên thành lập thêm những tổ chức mới như
Grameen Fisheries Foundation cho sản xuất cá tôm, Grameen Krishi Foundation cho
chương trình thủy lợi và Grameen Trust cho chương trình sức khoẻ. Sau đó, ngoài Ngân
hàng Grameen, họ còn bắt đầu bỏ vốn hoạt động trong kỹ nghệ dệt vải, cung cấp dịch vụ
Internet, v.v. (Yunus, 2006) Tất cả người vay tiền là người thật nghèo. Năm 1997,
Grameen
Foundation
được thành lập do một nhóm thân hữu của Ngân Hàng Grameen, với mục đích
xóa đói giảm nghèo và tạo cơ hội thăng tiến cho người nghèo, bằng cách giúp đỡ họ nhận
được tín dụng nhỏ dễ dàng và các thông tin liên hệ. Hiện nay, mạng lưới toàn cầu vi tài
chánh của Grameen Foundation có đến 2,2 triệu gia đình trong 22 quốc gia. Từ 1983 đến
nay, riêng ở Bangladesh, Ngân Hàng Grameen đã cho vay tổng cộng 6 tỷ Mỹ kim cho 6,6
triệu người vay, 97% là phụ nữ, mỗi năm cho vay độ 500 triệu Mỹ kim, và cung cấp dịch vụ
cho 79.000 xã trong nước này (Ngô Nhân Dụng, 2006). Theo GS Yunus, đến cuối năm
2004, trên thế giới có 3.100 tổ chức gần giống như Ngân Hàng Grameen, từ xứ nhỏ như
Uganda ở châu Phi đến New York, Chicago ở Hoa Kỳ, Pháp, Na Uy. Các tổ chức này tiếp
xúc với 92 triệu người vay tiền, trong đó 67 triệu là người nghèo nhứt được vay tiền từ các
ngân hàng thương mại.

Nguyên tắc cho vay của Ngân Hàng Grameen (Dadhich, 1995 và Yunus, 2006)): Trọng
điểm của Ngân Hàng Grameen là chú trọng phát triển xã hội qua
cung cấp tín dụng cho
người nghèo mà không đòi hỏi thế chấp hay giao kèo pháp lý
. Vì thế khách hàng của
họ là những người thật nghèo, không có ruộng đất và của cải, đặc biệt phụ nữ. Một gia
đình được xem nghèo khi chỉ làm chủ không quá 2.000 m2 đất và không có của cải quá
10.000 taka (143 Mỹ kim).

Chương trình cho vay của Ngân Hàng Grameen có 4 loại:
(i)        Cho vay tổng thể nhằm vào các hoạt động kinh tế để giúp tạo ra lợi tức và tạo công
việc làm cho mình để tự làm chủ.
(ii)        Cho vay liên hợp nghĩa là cho vay cả nhóm chứ không phải cá nhân để họ có số
vốn lớn dành cho các hoạt động đầu tư lớn.
(iii)        Cho vay xây cất nhà chỉ được thực hiện sau khi người vay đã có biểu hiện tốt trong
các lần vay nợ trước.
(iv)        Cho vay kỹ thuật nhằm mục đích đầu tư sản xuất, như nhà máy xay chà lúa, đào
giếng, máy gặt lúa…

Các nguyên tắc chính của vi tín dụng Grameen gồm có:
1)        Sự cho vay
không cần thế chấp và giao kèo pháp lý, mà căn cứ vào lòng tin con
người.
2)        Cho vay theo
nhóm tối thiểu 5 người cùng liên đới chịu trách nhiệm, người vay của
nhóm không phải đến Ngân Hàng để xin vay, trái lại
Ngân Hàng đến gặp nhóm để chọn
người cho vay
, qua các phiên họp địa phương giữa các nhóm và trung tâm cho vay. Lần
đầu tiên, Ngân Hàng chỉ chọn ra 2 người trong nhóm để cho vay, sau đó căn cứ vào thành
tích trả nợ tốt, Ngân Hàng sẽ tiếp tục cho vay nhưng mỗi lần 2 người mà thôi. Mức trả nợ
hiện nay đạt đến 98%.
3)       
 Mục tiêu hoạt động và số tiền cho vay được quyết định do khuyến cáo của trưởng
nhóm đi vay nợ và trưởng trung tâm cho vay.
Cấp tiền cho vay trong vòng 15 ngày kể
từ ngày nộp đơn xin vay, với thủ tục rất đơn giản. Người mượn cùng một lúc có thể xin vay
cho một hay nhiều mục đích.
4)        Tiền vốn trả lại được ấn định từng kỳ (mỗi tuần, hoặc 2 tuần), với lãi suất 18%. Khi
người vay trả vốn đủ 50 kỳ hạn, tức gần một năm, họ bắt đầu trả tiền lãi.
5)        Người vay bị bắt buộc hoặc tự nguyện
tham gia chương trình tiết kiệm.
6)        Cho vay có thể xuyên qua các tổ chức bất vụ lợi. Nếu xuyên qua các tổ chức có lợi,
lãi suất phải theo thị trường thường cao hơn để vốn cho vay được bền vững.
7)        Tín dụng Grameen dành ưu tiên cho thành lập
vốn đầu tư xã hội, nhằm thành lập
trung tâm huấn luyện để phát triển khả năng trình độ kỹ thuật của người đi vay và người
cho vay, đặc biệt chú ý đến giáo dục trẻ con, học bổng cho cao học, tín dụng cho kỹ thuật
mới như: điện thoại di động, tin học, năng lượng thiên nhiên, cơ động thay thế sức người…

Điểm đáng lưu ý là trong quá trình cho vay,
các phiên họp giữa người cho vay và
người vay mượn
đã tạo cơ hội gặp gỡ giữa những người dân vay nợ với nhau và với
người của Ngân hàng để trao đổi kinh nghiệm về các thành quả và những khó khăn trong
hoạt động liên hệ vay tiền. Nhân viên Ngân Hàng thường cho lời khuyến cáo về kỹ thuật,
nhiều khi họ cũng đi thăm viếng nhà người vay nợ để quan sát tiến trình kinh doanh của
họ. Mỗi phiên họp như thế có từ 6 đến 8 nhóm người đi vay trong cùng xã để Ngân Hàng
cho vay nợ mới và đồng thời thu nợ theo định kỳ. Những người vay tiền sau một năm có
biểu hiện trả nợ tốt được quyền mua cổ phần của Ngân Hàng. Đến nay, 94% số cổ phần do
người dân nghèo làm chủ. Các cổ đông có quyền bầu ra 9 quản trị viên trong số 13 người
trong hội đồng quản trị, số còn lại gồm đại diện chính phủ và ông Yunus (Ngô Nhân Dụng,
2006). Từ năm 1995, Ngân Hàng Grameen trở nên tự túc và không còn nhận tài trợ bên
ngoài.

Ngoài ra, trong các buổi họp trả nợ hàng tuần, những người vay mượn cùng nhau đọc “16
điều phát nguyện” về sức khoẻ, vệ sinh cá nhân và xã hội, cải thiện phong tục, kế hoạch
hóa gia đình, dạy con, trồng rau quanh năm, cày cấy, v.v., nhằm cải tiến đời sống lành
mạnh và tốt đẹp hơn, trong tinh thần tự do và tự nguyện.

Chỉ trích: Chương trình vi tín dụng Grameen cũng gặp một số khuyết điểm lúc ban đầu
như: (i) chi phí điều hành giám sát quá cao, (ii) không cung cấp tín dụng cho mục đích đầu
tư và (iii) thiếu cơ sở huấn luyện để cải thiện khả năng của người đi vay và người cho vay.
Chẳng hạn, chi phí thành lập và điều hành ngân hàng trong năm 1992 cao đến 5,5% của
số vốn hoạt động, so với 4% của cơ quan tín dụng ở Ấn Độ. Đầu thập niên 1990s, một
nghiên cứu của Ngân Hàng Thế Giới cho biết
chỉ số lệ thuộc trợ cấp (subsidy dependence
index-SDI) của Ngân Hàng Grameen Bangladesh cao đến 130, nghĩa là Ngân Hàng này cần
tăng lãi suất hơn gấp đôi lãi suất bấy giờ (16%) để có thể tự túc, tự lực. Sự sống còn của
Ngân Hàng Grameen còn tùy thuộc vào trợ cấp của chính phủ và các tổ chức quốc tế
(Dadhich, 1995). Tuy nhiên, hiện nay Ngân Hàng này đang ở trong tình trạng tự túc.

Tóm lại, chương trình vi tín dụng của Ngân Hàng Grameen đã làm thay đổi hẳn diện mạo
của các làng xã, và rất thành công trong công tác giảm nghèo ở Bangladesh và một số
nước đang phát triển trên thế giới. Chương trình này là sự phối hợp áp dụng giữa các
nguyên tắc kinh tế và động lực xã hội để
giúp người nghèo “tự làm chủ mình”. Rõ ràng
chương trình vi tín dụng Grameen có thể áp dụng ở Việt Nam để giúp những người nghèo
khổ vượt qua các khó khăn đời sống triền miên, chỉ vì họ thiếu phương tiện, vốn liếng cần
thiết để sinh hoạt, hoặc không có cơ hội áp dụng kỹ thuật tân tiến để tăng gia sản xuất.
Hơn nữa,
hiện tượng cho vay nợ chợ đen, ngắn hạn với lãi suất rất cao xảy ra thường
xuyên ở bất cứ nơi nào trong nước, từ thôn quê đến thành thị. Do đó, cần có chính sách
thích hợp để khuyến khích áp dụng triệt để các nguyên tắc vi tín dụng của Ngân Hàng
Grameen trong hoàn cảnh đất nước, nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của các giới nghèo,
kém may mắn hiện nay, cũng như giảm bớt hiện tượng cho vay tiêu cực dẫy đầy trong
nước, trong khuynh hướng hiện đại hóa và hội nhập thế giới của đất nước.

Trần Văn Đạt, Ph. D.



Tài Liệu Tham Khảo:

1.        CNN. 2006. Bankers for poor win peace Nobel. (www.cnn.worldnews).
2.        Dadhich, C.L. 1995. Grameen Bank: Pros and Cons. Dialogue on A New Deal for
Self-Employed: Role of credit, Technology and Public Policy, 30-1 to 2-2-1995, M.S.
Swaminathan Research Foundation, p 55-57.
3.        Romero, F. 2009. The Presidential Medal of Freedom. Time, 12 August 2009.
4.        Lâm Văn Bé. 2006. Nghèo đói vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu văn hóa
Đồng Nai-Cửu Long, số 4, Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation ấn hành: 93-120.
5.        Ngô Nhân Dụng. 2006. Giải Nobel Hòa Bình cho một ngân hàng? Người-việt on line
(www.nguoi-viet.com).
6.        Trần Văn Đạt. 2002. Tiến trình phát triển sản xuất lúa gạo tại Việt Nam. NXB Nông
Nghiệp, Việt Nam, 315 trang.
7.        Yunus, M. 1995. Grameen Bank: The Concept and its Roles. Dialogue on A New
Deal for Self-Employed: Role of credit, Technology and Public Policy, 30-1 to 2-2-1995, M.
S. Swaminathan Research Foundation, p 52-54.
8.        Yunus, M. 2006. What is microcredit.
(
www.grameen-info.org/bank/WhatisMicrocredit.htm