Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Khi nào nước nhà đào tạo được thế hệ khoa học, kỷ thuật  tuổi trẻ  như trình bày sau
đây      
              
      
10 nhà khảo cứu  khoa học, kỷ thuật nổi bật Hoa kỳ,
                    tương đối trẻ ( không qua 40 )

                                                                      G S Tôn Thất Trình


       (Số  Khoa học Phổ thông - Popular Science tháng 11 năm 2008, trình bày như sau) :

         1-  Khoa học computer :  Carlos Guestrin phát triễn phương cách mới làm
phần lớn thông tin, với ít cố gắng nhất .

Carlos Guestrin muốn làm ngưng hẳn lan tràn bệnh truyền qua nước, họa kiểu ghế điều
chỉnh theo đúng cách mỗi người ngồi, và chửa trị thông tin quá  tải cảm ứng Internet . Điều
này trông có vẽ quá tham vọng chăng, nhưng Guestrin đã phát triễn một algorism duy nhất,
giải quyết mọi điểm vừa kể. Cách đây 4 năm, Guestrin hoạt động ở một dự án Intel , liên
quan đến việc đặt những máy dò bé tí xíu trong một rừng thông đỏ. Các nhà khảo cứu mong
muốn  hiểu biết thêm về khí hậu vi tiễu.  Ông nhớ lại : tôi hỏi họ là cách nào họ quyết định
nơi đặt máy dò. Họ nói là dùng trực gíác, ít hay nhiều.. Guestrin biết là sẽ làm tốt hơn  và bắt
đầu nghĩ phương cách tối hảo nhất  cho cả vị trí lẫn số lượng máy dò, thu thập dữ liệu phẩm
giá cao nhất . Algorism thành quả,   khuấy tung xuyên qua mọi vị trí có thể có được cho máy
dò thứ nhất, xếp hạng mỗi vị trí  chiếu theo tiềm năng thu thập thông tin, lựa chọn vị trí tốt
nhất rồi định cỡ mọi vị trí,  chiếu theo lựa chọn đó. Mày dò đứng hạng hai  là máy cung cấp
thêm hầu hết  thông tin mới, và algorithm  tiếp tục xếp hạng , mãi cho đến khi phí tổn đặt
một máy dò cao hơn giá trị  dữ liệu nó sẽ thu thập.

Mọi dự án của Guestrin đều liên quan đến  thông tin chảy dòng  qua một mạng lưới, dù đó
là dữ liệu nhiệt độ trong rừng, lực áp dụng trên một ghế  khi người ngồi , hay ngay cả tin
tức  ngọai tình của một chính khách  qua  mạng
thông luận vi tính - blogosphere.  Trên mỗi
trường hợp, mục đích của algorithm  là tìm ra dữ liệu tốt nhất  qua vài máy dò  hay với ít cố
gắng, nếu được.  Chẳng hạn,
một thông luận vi tính - blog là một “ máy dò - sensors “  tiềm
thế câu chuyện kể. Algorithm Gueslin  định nghĩa  blog tốt nhất  là khi nó  tung ra sớm
những tin tức chuyện kể  to lớn , nhưng không bó buộc người dùng   phải đọc qua nhiều vị
trí trên mạng để tìm ra nó. Cũng như trên rừng, algorithm nhặt lấy một blog , xếp hạng nó lại
, lựa chọn blog kế tiếp  và cứ như thế , làm ngắn lại một danh sách 45 000 blogs   xuống chỉ
còn 100 blogs hửu hiệu .  ( khi Guestrin  chạy lập trình vào năm 2006 , Instapundit đứng
đầu sổ , có thể đọc được ở www.cscmu.edu/-jure/blogs . )  .

Có nhiều algorithm  đặt máy dò khác, nhưng algorithm Guestrin đặc biệt mau lẹ và chính
xác.  Nó đã thắng cuộc tranh tài về  căn bản bắt chước EPA hổ trợ, đòi hỏi các nhà khảo
cứu  phải qui định  những
điểm - spots tốt nhất  để đặt  các máy dò ô nhiễm nước trong  một
mạng ống đồ sộ .  Và Guestrin đã chứng minh là trên phương diện lý thuyết, algoritm gần
như tuyệt hảo. Ông nói : đó là phần đẹp. Dù bạn có thông minh mấy đi nữa để họa kiểu một
algorithm, bạn không thể nào  làm tốt hơn algorithm này.

2-        
Vật lý dây thần kinh: Karl Deisseroth, người điều khiển con rối dây thần kinh  
Karl Deisseroth,36 tuổi, thuộc đại học Stanford, Ca Li,  nói : đây là cái gì đã xảy ra  khi
chúng ta mở đèn . Ông chỉ tay về phía một con chuột , một tích trữ  cho sợi quang mỏng
thín, lồi  khỏi sọ. Khi một cán bộ la bô  bấm vào một đòn bẩy , ánh sáng xanh dương xuyên
qua sợi, một con chuột , đang thơ thẩn tiến trước mặt,  bắt đầu chạy vòng tròn. Deisseroth
giải thích:  
Con chuột làm như vậy vì chưng  ánh sáng xanh dương mở mạch vòng dây thần
kinh- neuron  circuit
.  Một khi chúng ta tắt kích thích đi, con chuột sẽ tiến tới thẳng trước
như cũ.

Đây là một lễ hội có thể làm Orwell ngạc nhiên: Deisseroth  đã chỉ định  chuột cư xử, hành
vi  bên trong ra bên ngòai   Bí mật là  một hạng protein quang cảm  ( cảm ứng ánh sáng )  
gọi là channelrhodopsins - kênh rôđốpxin, xảy ra thiên nhiên ở rong tảo. Deisseroth tiếp:  
những hậu tiến sĩ khoa học đã đến
Vịnh Nữa Mặt Trăng - Half Moon Bay , trên bờ biển bang
Ca Li ,  thu thập nó,  trên căn bản đó là bọt ao hồ. Khi trải bày ánh sáng  kênh rôđốpxins
giúp điều hòa  dòng sodium  vào trong tế bào , qui định là một neuron có bốc lữa hay không
? . Khi đưa gen tạo nên protêin bọt ao hồ này  thành neuron chuột, Deisseroth  họa ra kiểu
kích động hay làm ngưng neuron, cũng dễ dàng như khi chúng ta  tắt -mở nút đèn vậy đó.

Deisseroth không thích thú gì trong một chiến dịch kiểm sóat trí óc  thế kỷ 21. Ông chỉ cố
tâm nắm tay  cho được  những căn bản của  chức năng nảo bộ. Khi ông tắt - mở những
mạch vòng dây thần kinh, ông có thể quan sát chính xác, những cư xử các mạch vòng này
kiểm sóat.  Ông nói : chúng ta đã biết tim họat động ra sao . Đó là một máy bơm . Nhưng đối
với nảo bộ, chúing ta chưa có một mô hình như thế . Chúng ta vẫn chưa tưởng tượng được
một kiểu mẩu cho nảo bộ. Các sợi Deisseroth sẽ giúp các nhà khảo cứu  thám hiểm  neuron
nảo bộ làm gì ở mức độ neuron với neuron. Đột khởi , chọc thủng lớn lao  của Karl, là sử
dụng ánh sáng  để làm đồ bản  chức năng những mạch vòng dây thần kinh, lần đầu tiên,  
hiểu biết thật sự cách nào nảo bộ họat động, theo lời George Augustine, nhà sinh học dây
thần kinh, viện đại học Duke.  Đây là một vấn đề to lớn ,  hơn một thế kỷ nay rồi.  Deisseroth
sẽ mở rộng toang lảnh vực !

3-        
Những máy cấy lắp vào thân thể được: John Santini, tay bơm thuốc
Santini, 36 tuổi, xây đắp những chip dưới da, đưa thuốc  vào tận máu. Khi ông lên 12 tuổi, ,
đầu gối John Santini sưng to lên như trái bưởi .  Sau nhiều lần thăm viếng tại nhiều bệnh
viện, ông được chẩn đóan là bị
lupus - lao da , một bệnh kinh niên  do những tấn công vào
hệ thống miễn nhiễm , trên các phần thân thể lành mạnh. Ông được  cho biết là phải  dùng
thuốc trị mãi mãi. Nhưng ông đã xem tình trạng ông như một cảm hứng, và đã dùng cả cuộc
đời mình họa kiểu ra một phương cách hòan tòan mới mẽ  cung cấp thuốc men vào thân thể.

Santini là đồng thiết lập viên và tổng giám đốc điều hành hảng MicroCHIPS, căn cứ tại
Massachusetts, chế tạo những linh kiện điện tử, cấy đặt dưới da. Những chips này cảm giác
được thay đổi hóa học thân thể và cung cấp thuốc men khi cần. Nhưng giếng nhỏ mở ra,
giải tỏa thuốc  hay  đón mời chất lỏng thân thể vào chips để được phân tích  và theo dõi.
Chip  kích thước cở một đồng xu Mỹ , đặt nằm trong thân thể nhờ một gói kích thước Oreo ,
có một ăn - ten và những điện tử đơn giản , mà các bệnh nhân có thể  khởi sự, khi khởi
động  một linh kiện nhỏ điều khiển từ xa.      

Năm tới , hảng sẽ thử nghiệm chip theo dõi glucose ( đường ) cho bệnh nhân mắc phải tiểu
đường trên những thử nghiệm lâm sàng ( họat động tốt trên động vật ) . Chip sẽ theo dõi
các mức glucose liên tục trong một năm, đích xác hơn là thử chích máu ngón tay , cho nên
tối thiểu được hiểm nguy biến chứng  như mù mắt hay hư thận. Những thử nghiệm lâm sàng
cho một chip giải tỏa những nồng lượng thuốc hàng ngày cho chứng lỏang xương sẽ bắt
đầu năm nay.

Santini ước đóan là những chip tương lai có thể xem là ký danh sinh học cho đau tim hay
đau thận,  trước khi xảy ra.  Những dịch bản thóai hóa sinh học nhỏ hơn có thể tiêm vào,
không cần ống , thẳng ngay thân thể, hầu giải tỏa thuốc hay những  nồng lượng vaccine,
theo thời gian. Và dù rằng Santini vẫn chưa khắc phục lao da lupus, ông đã bắt đầu  
cócông cụ cho công trình

4-        
Khoa học xã hội dây thần kinh-neuroscience: Rebecca Saxe, nhà triết gia em
bé, non trẻ

Rebecca Saxe, 29 tuổi, Viện Đại học Kỷ thuật MIT, Massachusetts, nghiên cứu cách nào bộ
nảo chúng ta tạo nên những biểu hiện chính xác của thế giới.  Trong một phòng nhỏ , tầng
thứ hai Bảo tàng Viện Trẻ Em Boston, Helal  Hasan, 6 tháng, đang  nhìn một viđêô ngắn.  
Bên dưới màn hình, một linh kiện  hồng nội,  theo dấu di chuyễn đôi mắt em bé, hiện ra
thành những chấm đỏ nhỏ chồng lên  trên một màn hình sau một bức màn , cách xa chừng
một mét . Đa số em bé cố định những vật thể sáng chói , nhưng Hasan lại khác thường:  em
bé đã  thích nhìn mặt mày ,  mắt em,  vẽ ra dạnh hình tam giác  đặc biệt - mắt trái , mắt phải,
miệng,  rồi mắt trái một lần nữa -  những gì các em bé lớn tuổi hơn và người trưởng thành
làm ra, khi họ quan sát  một khuôn mặt mới.  Em Hasan đã bắt đầu cuộc dò xét suốt đời
sống về những điều người khác nghĩ tới.

Rebecca  sử dụng  chuyễn động đôi mắt Hasan như thể một cửa sổ  đi vào tiến trình. Bà
sinh viên triết học  quay sang nhà khoa học  muốn  giải đáp câu hỏi lớn lao:  
cách nào bộ
nảo  làm việc với thông tin chạy qua mắt, tai ? Cách nào nảo biến  thông tin thành suy nghĩ,
hầu giúp chúng ta hành động. ?
Bà tự hỏi  cách nào trí óc chúng ta  tạo ra những hình ảnh
chính xác  của thế giới , những lăng tăng đã hơn một thế kỷ, bây giờ mới được thăm dò như
những dụng cụ ngành khoa học dây thần kinh.

Saxe khởi sự trên những câu hỏi biến thành vòm này, bằng cách khảo sát  một ca, một
trưoờng hợp đặc thù : cách nào chúng ta  birết đượcsuy nghĩ của kẻ khác ? năm 2005, bà
chấm dứt một biện cứ dài nhiều chục năm của những nhà khoa học dây thần kinh,  
khi bà
trình bày  là có một bộ phận  đặc thù nảo bộ chúng ta  chuyên về suy nghĩ  những sở thích
kẻ khác
 ( nhiều người đã nghi ngờ  là một vùng duy nhất có thể có chức năng  ngay tức
khắc đặc thù và trừu tượng đến thế ). Có những phương tiện khác tò mò nhìn vấn đề ,cho
nên Saxe đã có Playlab.  Ở đó, trong một xây cất tràn đầy đề tài tiềm thế,  bà nghiên cứu
cách nào và khi nào em bé  bắt đầu tìm kiếm bên ngòai và trả lời cho mọi người. Bà nói:  
trên vài cảm giác , em bé thực chất  trở nên con người,  khi chúng bắt đầu  tương tác xã hội
, để nhìn vào mặt mày , để cười  và phản ứng để nhận cứ và chia sẽ  ý tứ
.  Khi đó bà sẽ
gần  hiểu biết lúc nào em bé trở thành một nhân cách xã hội  ( bà đã có ý tưởng  thô hào,
nhưng đang gần kề ) , bà sẽ  nghiên cứu những em bé  ở tuổi  chúng trêu chọc tan vỡ,  
những gì nảo bộ non trẻ phải trải qua , khi chúng học hỏi suy nghĩ đến kẻ khác .

Dù rằng công trình Saxe có liên hệ thực tế, vì có thể đưa tới những thử nghiệm chẩn đóan
sớm về bệnh tự vùi minh vào những cảm nghĩ cu/a mình - autism, chẳng hạn, bà để tâm
hơn  vào một hình ảnh lớn hơn.  Bất cứ một điều tra cận đại nào ở  lĩnh vực cách nào chúng
ta suy nghĩ ,  cũng phải làm sáng chói  tại sao chúng ta suy nghĩ  quá dỡ ẹt.  Bà tiếp:  chúng
ta hòan tòan ủy nhiệm đến cái nhìn cách nào trí óc họat động , tóm tắt là chúng ta tin rằng
dân gian  lý trí, nhưng phần lớn thời gian, cư xử nhân lọai  không căn cứ trên  
lộ liễu -
explicit
, lý trí, quyết định chu đáo. Và những khuynh hướng vô ý thức thường  đã quá rỏ rệt.  
Trí óc làm chúng ta lẩm lẫn có hệ thống, mãi mãi  nhiều lần, theo cá nhân lẫn xã hội,  trong
cách nào chúng ta phân phối phạt., cũng như   chúng ta định giá ai đó, achúng ta nghĩ  ai
đó là người tốt,  chúng ta choai  là kẻ xấu xa,  và cách nào chúng ta cố gắng thay đổi hành
vi , cư xử  cho tốt hơn , cho tệ hại hơn.  Có thể chúng ta ngăn ngừa được lập lại sai lầm,
một lần nữa, mải mải. Khi đó sẽ là thành công !      
         
5-        
Hóa học hửu cơ : Melanie Sanforo, người phá vỡ nối kết  hóa học  
Melanie Sanford, 33tuổi , viện đại học Michigan, sáng chế ra một cách xây dựng  chính xác
một phân tử, đúng cho công việc. Tai sao lại có quá nhiều bệnh  và rất ít chửa trị lành ?  
Không phải là vì  y khoa tiến triễn chậm; chính hóa học đã kềm hảm chúng ta. Muốn làm ra
thuốc , các nhà hóa học khởi đầu bằng một phân tử căn bản,  rồi thêm hay bớt nguyên tử ở
phân tử, từng nguyên tử một, theo một  trình tự  phản ứng.  Một phản ứng 10 giai đoạn chỉ  
có thể hóan chuyễn 8% vật liệu khởi đầu cho sản phẩm cuối cùng.  Và đó là nếu nhà hóa
học  có thể chế tạo ra đúng thuốc.

Tại la bô nhỏ ở Ann Arbor, bang Michigan, Hoa Kỳ, Melanie Sanford đã công nghệ hóa
được một giải pháp mới.  Bà đã học hỏi  cách biến một nối liền căn bản hóa học nhất,  nối
kết- bond carbon- hydrogen ( CH), một nối kết thường thức và bền vững đến độ các nhà
hóa học  viết tắt  nó bằng một dòng ngoằn ngoèo , thành bất cứ cái gì bạn tưởng tượng ra
được, theo lời bà.  Khám phá mở toang những phương pháp mới  xây dựng ra phân tử.

Khéo léo của bà là xây dựng những mảnh trò đố từ các chất xúc tác, những hợp chất làm
cho phản ứng tiến tới.  Quẳng một xúc tác  vào phân tử khởi sự dù muốn dù không, nó sẽ
tấn công nhóm hóa học phản động nhất bạn biết được.  
Những nối kết CH  cứng cổ,
thường là  lựa chọn cuối cùng của xúc tác , nhưng Sanford  xây dựng một cơ cấu nanô vào
vật xúc tác  làm nó  chỉ phản ứng  nối kết CH mong muốn thôi
. Xúc tác  cũng chứa một
nhóm hóa học bà muốn nó nối dính  vào phân tử khởi sự , để cho khi  xúc tác  lấy đi nhóm
CH , những nguyên tử mới đột kích vào,  thay thế nối kết CH.

Phương pháp của bà  có thể chế tạo ra được thuốc mới . Fluorine là một thành phần hút
dẫn, vì rằng nó có những ảnh hưởng sinh học độc đáo và phá vỡ chầm chậm, nhưng lại rất
khó cọng thêm hay lấy ra khỏi các vật liệu khởi sự. Các công ty điển hình mua những hợp
chất khởi sự  đã chứa đưng nguyên tố , và xây dựng  lên  ngòai nó: nhưng nếu fluorine
không ở điểm vi trí đứng đắn, cho một thuốc đặc biệt , các nhà hóa học không lấy nó ra
được .
Hóa học Sanford  chay quanh vấn đề, cho nên bà có thể thay thế  những nối kết CH
đặc thù với fluorine
. Không trắc trở gì cả., và các công ty dược phẩm  thông hiểu bà : họ đã
mời bà  đến  làm nhiều  tá diễn thuyết, trò chuyện , mấy năm vừa qua.

Các công ty năng lượng cũng sẽ làm như vậy . Khi thay đổi  một nối kết CH thành một nối
kết oxygen - hydrogen ( OH ) , methane  thành phần  chủ yếu  của khí dầu thiên nhiên, trở
thành methanol lỏng , chứa gần hết  số năng lượng tương đương, nhưng lại dễ chuyên chở
hơn .  Một trong những mục tiêu tới của Sanford  là tìm cách  làm cho phản ứng xảy ra ở
kích thước 1 triệu tấn.  Bà nói : chúng ta phát triễn  những xúc tác làm được như vậy , thế
giới sẽ bị hưởng ngay .

Kỳ tới tiếp theo , 5 nhà khoa học trẻ tuổi khác .

6-  Siêu dẫn- super conductivity :  Ali Zadani , nhà ước mơ nguyên tử .   

Xem tiếp