Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG HÂM NÓNG TOÀN CẦU LÊN
TỈNH KHÁNH HÒA

Trần-Đăng Hồng, PhD

Phần 2. Biến đổi khí hậu


Trong bài trước, chúng tôi đề cập đến ảnh hưởng của hiện tượng hâm nóng toàn cầu qua
tác động nước biển dâng cao. Trong phần này, chúng tôi trình bày ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu lên vùng Khánh Hòa, qua các tác động:
-        Gia tăng nhiệt độ
-        Gia  tăng sóng nhiệt (heat wave)
-        Bão tố
-        Biến đổi vũ lượng, ẩm độ không khí, lũ lụt và hạn hán
-        Biến đổi số giờ nắng.

1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG THẾ KỶ QUA

1.1. Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ

Trên thế giới
Thế giới đã và đang trải qua việc gia tăng nhiệt độ trung bình, tuy không nhiều lắm, khoảng
0,6 °C trong 100 năm qua, tức 0,006 °C/năm. Tuy nhiên hai thập niên 1980s và 1990s nóng
nhất của thế kỷ. Năm 1998 là năm nóng nhất trong thế kỷ 20, kế tiếp là các năm 2001, 2002
và 2005.  Sở dĩ năm 1998 nóng dữ dội vì hiện tượng El Niño xảy ra trong năm này rất mãnh
liệt.
Nhiệt độ gia tăng không đồng đều ở mọi địa điểm trên trái đất. Một cách tổng quát, kể từ
1979, nhiệt độ không khí trên đất liền tăng nhanh gấp đôi nhiệt độ đại dương (0,025 °
C/năm trên đất liền so với 0,013 °C/năm ở đại dương). Bắc bán cầu tăng nhiệt nhanh hơn
nam bán cầu vì bắc bán cầu có nhiều lục địa rộng hơn và nhiều băng tuyết hấp thụ nhiều
nhiệt lượng. Nhờ đại dương điều hòa, nhiệt độ vùng duyên hải gia tăng ít hơn và chậm hơn
nội địa. Các dòng nước nóng hay lạnh ở đại dương cũng góp phần quan trọng trong việc
điều hòa nhiệt độ của vùng có dòng nước chảy qua.

Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhiệt độ cũng có khuynh hướng gia tăng trong thế kỷ qua. Trong vòng 50
năm qua (1958-2007), nhiệt độ trung bình hàng năm đã gia tăng từ 0,003 °C/năm
(Nhatrang và Sapa) đến 0,117 °C/năm (Ninh Bình), tùy nơi (1).        
Tại Hà Nội nhiệt độ trung bình hàng năm trong thập niên 1931-1940 là 23,3 °C. Trong thập
niên 1941-1950, nhiệt độ tăng lên 23,6 °C. Trong 3 thập niên kế tiếp, 1951-1960, 1961-
1970, 1971-1980, nhiệt độ giảm; nhưng đến thập niên 1981-1990, nhiệt độ tăng lên lại 23,6
°C, rồi gia tăng nhanh lên 24,1 °C trong thập niên 1991-2000. Như vậy hàng năm nhiệt độ
trung bình ở Hà Nội gia tăng khoảng 0,006 °C/năm.















Hình 1. Biến đổi nhiệt độ trung bình hàng năm tại Hà Nội (1)

Tại Tân Sơn Nhất, trong suốt 3 thập niên 1931-1960, nhiệt độ trung bình hàng năm không
thay đổi 26,9 - 27,0 °C, nhưng tăng lên 27,2 °C trong thập niên 1971-1980, rồi 27,3 °C
trong thập niên 1981-1990, và 27,6 °C trong thập niên 1991-2000. Như vậy, khuynh hướng
gia tăng khoảng 0,0103 °C/năm trong vòng 70 năm qua.
















Hình 2. Biến đổi nhiệt độ trung bình hàng năm tại Tân Sơn Nhất (1)


Tại Đà Nẵng, nhiệt độ trung bình hàng năm trong thập niên 1931-1940 là 25,4 °C. Nhiệt độ
gia tăng liên tục trong 3 thập niên 1941 - 1970 lên tới 26,0 °C. Trong thập niên 1971-1980,
nhiệt độ giảm xuống 25,8 °C, và không thay đổi trong suốt 3 thập niên từ 1981 đến nay.
Như vậy, kể từ 1931 đến 2000, nhiệt độ gia tăng 0,4 °C, từ 25,4° đến 25,8 °C,  nhiệt độ
trung bình hàng năm có khuynh hướng gia tăng khoảng 0,0056 °C/năm trong vòng 70 năm
qua. Cũng tại Đà Nẵng, nhiệt độ trung bình mùa đông, cũng như nhiệt độ trung bình mùa
hè, đều có khuynh hướng gia tăng. Chẳng hạn, nhiệt độ trung bình tháng 1 có khuynh
hướng gia tăng từ 21,1 °C lên 21,7 °C,  và  nhiệt độ trung bình tháng 7 cũng gia tăng từ
28,5 °C đến 29,2 °C trong 7 thập niên này (1931-2000).




















Hình 3. Biến đổi nhiệt độ trung bình năm tại Đà Nẵng (1)

Như vậy, trong vòng 70 năm qua, nhiệt độ trung bình hàng năm có khuynh hướng gia tăng
rất rõ rệt ở Tân Sơn Nhất và Hà Nội, nhưng không rõ rệt lắm ở Đà Nẵng.  Một cách tổng
quát, từ Nha Trang (0,003 °C/năm) trở vào Nam tới đồng bằng Cửu Long, nhiệt độ trung
bình năm gia tăng ít, chẳng hạn Rạch Giá (0,0045 °C/năm).  Cần Thơ (0,0054°C/năm),
ngoại trừ vùng Sài Gòn (0,0103 °C/năm) gia tăng nhiều có lẻ vì ảnh hưởng của đô thị.
Ngược lại, từ Đà Nẵng trở ra Bắc, nhiệt độ trung bình năm gia tăng nhiều, như Vinh (0,0167
°C/năm), Ninh Bình (0,119 °C/năm), Hà Giang (0,0176 °C/năm), Điện Biên (0,0232 °C/năm)
(1).

1.2. Biến đổi mưa và bão tố
Trong thời gian từ 1911 đến 2000, mưa có khuynh hướng không thay đổi hay giảm chút ít ở
miền Bắc, giảm ở vùng Sài Gòn, nhưng gia tăng ở miền Trung và cao nguyên (1).












Hình 4. Khuynh hướng biến đổi vũ lượng trong thế kỷ qua tại 3 vùng của Viêt Nam

Các luồng sóng lạnh (cold front) thổi từ lục địa Trung Hoa đến Việt Nam có khuynh hướng
giảm, từ 288 lần trong thập niên 1971-1980, còn 249 lần trong thập niên 1991-2000, trung
bình giảm 0,49 lần/mỗi thập niên (1)
Bão nhiệt đới xảy ra ở Biển Đông cũng có khuynh hướng giảm, từ 114 trận bão trong thập
niên 1961-1970, còn 103 trận bão trong thập niên 1991-2000 (1), và khi đến địa phận Việt
Nam cũng có khuynh hướng giảm từ 77 trận bão trong thập niên 1971-1999 xuống 68 trận
bão trong thập niên 1991-2000 (1).

















1.3.  Biến đổi khí hậu tại Khánh Hòa
Khánh Hòa nằm trong vùng khí hậu N1, gồm 8 tỉnh phía nam Đèo Hải Vân cho tới Bình
Thuận, nên có khí hậu tương tự với Đà Nẵng. Đặc tính khí hậu chung của vùng này là mùa
đông ấm áp nhờ đèo Hải Vân ngăn chận các luồng gió lạnh thổi từ phương Bắc, nhưng mùa
hè thường có gió Lào nóng và khô. Càng vào phía nam, số giờ nắng càng gia tăng.

Nhiệt độ. Trong vòng 38 năm (1960 – 1998), nhiệt độ trung bình tháng 1 (mùa đông) và
tháng 7 (mùa hè), cũng như nhiệt độ trung bình năm tại Nha Trang không biến đổi lắm.
Theo tài liệu Đài Khí tượng – Thuỷ văn Nam Trung Bộ thì trong khoảng thời gian 1931-
2000, nhiệt độ trung bình năm tại Nha Trang gia tăng bình quân khoảng 0,003 °C/năm, gia
tăng ít nhất ở Việt Nam, ít hơn cả cao nguyên Sapa (0,0037 °C) và Đà Lạt (0,0047 °C/năm)
(1). Tuy nhiên, nếu tính từ 1958 đến 2007, nhiệt độ trung bình năm tại Nha Trang có
khuynh hướng gia tăng, khoảng 0,009 °C/năm, tương đối thấp hơn Qui Nhơn (0,015 °
C/năm) và Ban Mê Thuộc (0,0148 °C/năm) (1).

















Hình 5. Chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng trong giai đoạn 1966-2000 (màu đen)
so với giai đoạn 1931-1965 (màu xám) tại Nha Trang (Vẽ theo dữ kiện khí tượng của Đài
Khí tượng – Thuỷ văn khu vực Nam Trung Bộ)

Quan sát Hình 5, nhiệt độ trung bình tháng của các tháng mùa đông (tháng 12, 1, 2 và 3)
không thay đổi trong suốt 70 năm, chỉ tăng 0,2 – 0,3 °C trong các tháng còn lại kể từ 1966.

Mưa. Vũ lượng hàng năm tại vùng N1 cũng có khuynh hướng gia tăng trong 70 năm qua,
đặc biệt trong thập niên 1991-2000. Chẳng hạn tại Đà Nẵng, trong 70 năm qua vũ lượng có
khuynh hướng gia tăng 5,7 mm/năm. Hiện tại, vũ lượng trung bình hàng năm của vùng Nha
Trang là 1355,6 mm.


 
Ninh       Đá Bàn     Nha        Đồng      Cam      Khánh   Khánh
 Hòa  
                       Trang     Trăng      Ranh    Vĩnh         Sơn
                                                (Diên
                                                Khánh)

Tháng                                                        
I            20.7        17.6        32.0        24.4        15.8        16.9        9.9
II             8.5           6.4        13.9         8.0           6.2         6.9        4.4
III           24.4        19.4        29.8        28.8        34.4        19.9      16.1
IV          26.1         27.7        25.6        36.6        29.9        44.6      43.3
V          90.0        106.5        74.9      111.4        65.6      104.7    143.1
VI         85.2        109.5        61.6        116.6       67.2        85.1    156.3
VII        53.1          76.6        40.4          86.7        56.2        89       142.9
VII         69.5        103.6        51.8        89.9        51.3        85.3     172.6
IX         205.1        241.7      177.0      218.8      162.9     264.8      274.8
X          336.8        345.4       331.6     298.9       281.3     318.1     227.9
XI         364.1        325.1        357.9     330.5       278.9     315.1     258.7
XII        150.6        125.8        159.1     170.0        137        174.8    157.2

TỔNG 1,434.1    1,505.3    1,355.6     1,520.6   1,186.7   1,525.2   1,607.2

Bảng 1
. Vũ lượng trung bình tháng (mm) bình quân của nhiều năm tại 7 địa điểm ở Khánh
Hòa

Theo Bảng 1, ở đồng bằng thấp phía bắc (Đá Bàn, Ninh Hòa) mưa nhiều hơn phía nam
(Cam Ranh), và ở vùng cao (Khánh Sơn, Khánh Vĩnh) mưa nhiều hơn ở đồng bằng thấp.
Khô hạn thường xảy ra từ tháng 1 đến tháng 8, trong các tháng này lượng nước mưa thấp
hơn lượng bốc hơi nước.
Sở dĩ có sự khác biệt khá lớn về nhiệt độ và vũ lượng bởi vì các đồng bằng Vạn Ninh và
Ninh Hòa có núi cao bao vây, phía Tây bởi Trường Sơn, phía bắc và phía nam bởi các
nhánh Trường Sơn đâm ra biển, ngược lại đồng bằng Diên Khánh và Cam Lâm không có
núi cao ở phía nam, trong lúc Khánh Vĩnh và Khánh Sơn là vùng cao trên sườn Trường
Sơn. Chẳng hạn vùng Vạn Ninh tương đối mưa nhiều, có gió Lào nóng bức, vì ảnh hưởng
của dãy Vọng Phu. Đồng bằng Ninh Hòa và Diên Khánh tương đối mát hơn, nhiệt độ trung
bình hàng năm khoảng 27 ºC, tối đa chỉ khoảng 34 ºC, nhưng Dục Mỹ có thời tiết khắc
nghiệt, chịu ảnh hưởng gió Lào vào mùa khô, ban ngày nhiệt độ rất nóng 39-40 ºC, ban
đêm khá lạnh. Cũng vậy, vùng Cam Lâm thì nóng bức, có khi tới 38 ºC. Ngược lại, các vùng
cao trên sườn Trường Sơn, như Khánh Sơn (cao độ 400 m) Khánh Vĩnh (cao độ 700 m) có
khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình giao động giữa 23 - 26 ºC, ban đêm tương đối lạnh, và
nhiều mưa hơn vùng đồng bằng.
Riêng ở đỉnh Hòn Bà (cao độ 1575 m), nhiệt độ trung bình năm là 17,4 ºC; nhiệt độ trung
bình các tháng dao động từ 14,1 ºC đến 19,8 ºC; có 3 - 5 tháng nhiệt độ trung bình dưới 15
ºC. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối lớn nhất chỉ khoảng 27 ºC và tối thấp tuyệt đối khoảng 6,5 ºC.
Biên độ nhiệt độ năm là 4,4 ºC; biên độ nhiệt độ trung bình tháng từ 3 ºC – 5,5 ºC. Lượng
mưa trung bình năm có thể đạt từ 2000 tới 2750 mm. Số ngày mưa trong năm lên đến 251
ngày. Có thể xem mùa mưa ở đây kéo dài suốt cả năm. Trong các tháng 2, 3, 4 mưa tuy ít
nhưng cũng đạt xấp xỉ 100 mm và có từ 13 đến 15 ngày mưa. Những tháng còn lại lượng
mưa đều lớn hơn 200 mm và có 20 ngày mưa/tháng.  Độ ẩm không khí trung bình năm đạt
trên 85 %. Tháng có độ ẩm cao nhất có thể đạt trên 90 % tạo sương mù, và tháng thấp
nhất là tháng 4 - 5, độ ẩm không khí trung bình ở mức 85 – 87 %.

2. TIÊN ĐOÁN KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM VÀO NĂM 2100
Dựa trên các giả sử về khí thải nhà kiếng, quan trọng nhất là lượng CO2  hiện nay và dự
đoán trong tương lai trên toàn cầu, các nhà khoa học dùng các mô hình toán học để tiên
đoán thời tiết trong tương lai trên toàn cầu và cho mỗi vùng địa lý.
Lượng CO2 trong khí quyển đã gia tăng từ 280 ppm năm 1860 (khi kỹ nghệ bắt đầu) đến
379 ppm vào năm 2005, như vậy trung bình gia tăng 0,68 ppm/năm.
Vì dựa trên “giả sử” có cơ sở, càng về sau càng có nhiều dữ kiện chính xác hơn, nên từ hơn
15 năm nay có nhiều tiên đoán, tiên đoán sau điều chỉnh tiên đoán trước.
Dựa trên dữ kiện khí tượng ghi được trong 30 năm, từ 1961 đến 1991, cơ quan IPCC
(Intergovernmental Panel on Climate Change) tiên đoán nhiệt độ sẽ gia tăng +1 °C ở bán
đảo Đông Dương vào 2039, và từ +3 °C đến +4 °C vào 2099.

Tiên đoán của IPCC thực hiện năm 1994: Dự đoán là nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng từ 1,4 °C
đến 5,8 °C vào cuối thế kỷ 21 này, tuỳ theo mức độ sa thải của khí nhà kính ít hay nhiều,
quan trọng nhất là thán khí (CO2) và mức độ rừng bị tàn phá.
Tại Việt Nam, ở các tỉnh phía Bắc (phía bắc đèo Hải Vân) nhiệt độ sẽ gia tăng hơn ngày nay
khoảng từ 1,2 ºC đến 4,5 ºC, các tỉnh phía nam nhiệt độ gia tăng  0,5 ºC đến 3,0 ºC, và
nước biển dâng cao 15 đến 90 cm dọc duyên hải vào năm 2070.

Tiên đoán của IPCC thực hiện năm1998: Vào năm 2070, nhiệt độ gia tăng 1,5 ºC ở các tỉnh
duyên hải,  và 2,5 ºC ở các vùng núi; vũ lượng gia  tăng 0,5 % ở Miền Bắc, Cao nguyên
Trung Việt và Nam bộ,  tăng 0 – 10 % ở các tỉnh Miền Trung. Trong mùa khô vũ lượng giảm
5 %. Nước biển dâng 45 cm.

Tiên đoán của IPCC thực hiện năm 2007: Vào năm 2099, nhiệt độ trên toàn cầu gia tăng
1,1 đến 1,9 ºC nếu sa thải ít CO2, và tăng 2,1 đến 3,6 ºC nếu sa thải nhiều CO2; vũ lượng
trung bình hàng năm của thế giới gia tăng 1,0 đến 5,2 % nếu sa thải ít, tăng 1,8 đến 10,1 %
nếu sa thải nhiều, và nước biển dâng 65 cm nếu sa thải ít và 100 cm nếu sa thải nhiều.

Tiên đoán của Việt Nam năm 2009 dựa trên tiên đoán của IPCC. Nhiệt độ tại Việt Nam gia
tăng 1,1 đến 1,9 ºC nếu thế giới sa thải ít CO2, và tăng 2,1 ºC đến 3,6 ºC nếu sa thải nhiều
CO2; vũ lượng trung bình hàng năm của thế giới gia tăng 1,0 đến 5,2 % nếu sa thải ít, tăng
1,8 đến 10,1 % nếu sa thải nhiều, và nước biển dâng 65 cm nếu sa thải ít và 100 cm nếu sa
thải nhiều (1).
Vì biến đổi khí hậu còn tùy thuộc điều kiện địa phương, nên được điều chỉnh. Theo đó,
nước biển dâng cao 0,5 – 0,6 cm/năm. Tại các tỉnh phía nam (phía nam Hải Vân) mùa bão
có thể đến sớm hơn, nhiệt độ tối đa tuyệt đối sẽ gia tăng, số giờ nắng gia tăng. Vũ lượng
trong mùa mưa sẽ gia tăng.
Tuy nhiên, các con số trên đây là những dự đoán dựa trên một số “giả sử”, và dữ kiện ngắn
hạn (30 năm), các con số giả sử đó được chạy trên máy vi tính cũng do con người làm ra. Vì
vậy, đây vẫn là một đề tài còn tranh luận giữa các nhà khoa học. Tuy nhiên có những điểm
chung 2 trường phái cùng đồng ý:
1.        Hiện nay nhiệt độ đang trên chiều hướng gia tăng.
2.        Lượng CO2 cũng gia tăng trong khí quyển.

Sau đây là những điểm khác biệt:
1. Nhiệt độ địa cầu gia tăng, cũng như mực nước biển dâng cao, từ 15 ngàn năm nay, khi
thời đại băng hà chấm dứt, chứ không phải kể từ thời bắt đầu có kỹ nghệ (1860). Trong 800
ngàn năm qua, địa cầu đã trải qua ít nhất là 8 lần biến đổi khí hậu, mỗi chu kỳ hâm-
nóng/hóa-lạnh kéo dài khoảng 100-120 ngàn năm. Trong mỗi chu kỳ, sau khi đạt đỉnh nhiệt
độ nóng nhất, nhiệt độ giảm dần và tiếp theo là thời kỳ băng giá. Hiện tại, địa cầu đang
nóng dần và đến gần đỉnh nóng, nhưng không biết là sẽ tiếp tục gia tăng, hay sẽ ngừng rồi
giảm nhiệt độ, như các chu kỳ trước. Theo các dữ kiện đo từ các trầm tích phiêu sinh vật
qua đồng vị phóng xạ Oxygen (O*16 /O*18), thì nhiệt độ các đỉnh nóng trong quá khứ không
vượt quá 1 °C trên nhiệt độ chuẩn của năm 1900, và cách đây 15 ngàn năm nhiệt đô địa
cầu lạnh hơn hiện nay 5 °C (Hình 6) và nước biển thấp hơn hiện nay 90 m.
















Hình 6. Các chu kỳ biến đổi nhiệt độ địa cầu trong vòng 800 ngàn năm nay (theo tạp chí
Consequences, 2 (1), 1996, của cơ quan U.S. Global Change Research Information Office.
Đường chấm ngang số 0 là nhiệt độ năm 1900 dùng làm chuẩn để so sánh (2).

2. Lượng CO2 trong không khí cũng biến đổi theo chu kỳ tương tự, một chu kỳ cũng kéo dài
khoảng 100 ngàn năm, giữa 2 cực tiểu khoảng 190 ppm và cực đại 300 ppm. Nhiệt độ gia
tăng hay giảm theo lượng CO2 tăng hay giảm. Tuy nhiên, trong chu kỳ từ 15 ngàn năm nay,
lượng CO2 đã gia tăng tới 380 ppm hiện nay, tức vượt quá cực đại 300 ppm của các chu kỳ
trước. IPCC vì vậy cho rằng nhiệt độ sẽ gia tăng theo tỉ lệ thuận với lượng CO2. Tuy nhiên
các nhà khoa học khác phản bác là lượng CO2 đã tới điểm bảo hòa, nhiệt độ gia tăng
không còn theo đường thẳng mà là nằm ngang ở đỉnh trước khi giảm xuống (như dạng
parabole). Nếu khảo sát trong ngắn hạn 200 năm thì thấy nhiệt độ có khuynh hướng gia
tăng (như đã chứng minh ở trên), nhưng so sánh với nhiệt độ biến đổi trong 10 ngàn năm
nay, thì nhiệt độ có khi tăng khi giảm theo các chu kỳ nho nhỏ, mà điểm cực đại không vượt
quá 1°C của năm 1900 (đường đậm bên dưới, bên phải của Hình 7).



















Hình 7. Biến đổi nhiệt độ (dưới) và lượng khí CO2 trong không khí (trên) trong thời gian
400.000 năm qua dựa vào nghiên cứu băng hà ở hai địa cực. Đường thẳng đứng (tận bên
mặt) thấy sự biến đổi đột ngột khí CO2 trong hai thế kỷ vừa qua, nhưng nhiệt độ không gia
tăng vượt quá 1°C hơn chuẩn của năm 1900. Theo A.V. Fedorov et al. Science 312, 1485
(2006) (3).

Khảo sát chi tiết hơn nữa (Hình 8) , biến đổi nhiệt độ trong 150 ngàn năm qua, thì đỉnh cao
nhất đạt +1°C trên mức chuẩn năm 1900 xảy ra cách đây khoảng 130 ngàn năm, tiếp theo
là các chu kỳ hâm-nóng/hóa-lạnh có đỉnh cao thấp hơn điểm chuẩn năm 1900 dưới 1 °C
hay 2 °C. Trong thời đại hiện nay, nhiệt độ cao nhất cũng chỉ nhỏ hơn +0.5 °C trên mực
chuẩn.

















Hình 8. Biến đổi khí hậu trong 150 ngàn năm qua (R.S. Bradley & J.A. Eddy, tạp chí Nature
vol. 329 (1987), trang 403-408 (4).

Khảo sát chi tiết hơn nữa nhiệt độ biến đổi tại Tây Âu và Bắc Mỹ trong 1000 năm nay (Hình
9), dựa theo khảo cổ trên động thực vật, và sử sách có ghi chép, thì vào thời Trung Cổ
cách đây 800 năm, nhiệt độ cao hơn mức chuẩn 1900 khoảng +0,3 °C, sau đó địa cầu lạnh
dần, khi tăng khi sụt, và các điểm nóng nhất vẫn thấp hơn 0,3 °C mức chuẩn năm 1900, và
điểm lạnh nhất cũng chỉ dưới 0,5°C mức chuẩn. Mặc dầu chỉ giảm hơn 0,5 °C, nhưng đã
gây nhiều thiệt hại vì mùa đông rất lạnh, gây nhiều nạn chết đói ở Âu Châu (như nạn chết
đói ở Ái Nhĩ Lan) và sự tuyệt chủng của dân Viking tại Greenland.
















Hình 9. Biến đổi nhiệt độ của Tây Âu và Bắc Mỹ trong 1000 năm qua. Nhiệt độ được ước
tính qua động vật và thực vật (vòng gỗ) và lịch sử được ghi chép. Đường chấm là nhiệt độ
chuẩn của năm 1900 để so sánh (2) (Bradley & J. A. Eddy, 1991, EarthQuest, vol 5, no 1
(5).

Dựa trên quá khứ, gia tăng nhiệt độ hiện nay có thể chỉ là một chu kỳ nhỏ và sẽ không gia
tăng quá 3 ºC ở cuối thế kỷ này như IPCC tiên đoán.

3. KHÍ HẬU VIỆT NAM TRONG QUÁ KHỨ
Ngày nay, khảo sát vòng gỗ ở cây cổ thụ Pơ-Mu vài ba trăm tuổi có thể cho biết khí hậu của
thời quá khứ. Khoa học mới này gọi là Dendrochronology. Bởi vì, gặp thời tiết bất lợi (hạn
hán, lạnh quá hay nóng quá) vòng gỗ hẹp, còn nếu thời tiết bình thường thì các vòng gỗ
bằng nhau, trái lại năm mưa nhiều thì các vòng gỗ lớn. Chẳng hạn, nghiên cứu vòng gỗ trên
cây Pơ Mu 220 tuổi ở Đà Lạt cho thấy các vòng gỗ hẹp trùng với các năm có El Niño xảy ra
ở Việt Nam trong vòng 50 năm nay (6). Tương tự, các khoa học gia Hoa Kỳ nghiên cứu
vòng gỗ cây Pơ Mu cổ thụ mọc dọc theo Sông Mekong, từ Bù Đốp của Việt Nam cho tới
Campuchia và Thái Lan, cho biết Đông Dương và Thái Lan trãi qua hai thời kỳ hạn hán kéo
dài ở thế kỷ 14 (vào khoảng các năm 1362-1392) và thế kỷ 15 (khoảng 1415-1440), hạn
hán rất nặng kéo dài nhiều thập niên, trầm trọng nhất là năm 1417. Lịch sử Việt Nam cũng
cho biết là những năm đói kém do đại hạn hán xảy ra vào các năm 1269-1270, 1379-1382,
1392-1393, 1409-1411, 1430, 1434, 1437, 1445- 1448, 1585-1589, 1595-1599, 1750-1780
(7, 8). Lịch sử Việt Nam ghi rõ châu chấu phá hại mùa màng trầm trọng gây chết đói vào
các năm 1838-1840, và 1854. Châu chấu sinh sản nhiều trong điều kiện khô hạn, và nhiệt
độ trên 35 ºC tới 41 ºC trong nhiều tháng liên tục. Gần đây nhất, năm 2007, cũng là năm El
Niño, châu chấu xuất hiện phá hại mùa màng ở Thanh Hóa, Nghệ An và các tỉnh miền Đông
Nam Bộ, nhưng không gây nạn chết đói vì ngày nay đã có biện pháp bảo vệ mùa màng hữu
hiệu. Thật là trùng hợp cho hai biến cố cùng xảy ra một thời điểm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19
(Hình 9), theo đó Âu châu bị giá rét liên tục nhiều thập niên đưa đến nạn chết đói, nhưng lại
nóng bức và hạn hán trầm trọng ở Việt Nam và Đông Nam Á.

4. HIỆN TƯỢNG EL NIÑO VÀ LA NIÑA
Có phải hiện tượng hâm nóng toàn cầu là do con người sa thải nhiều khí nhà kiếng trong
vòng 200 năm nay? Đây là một đề tài nóng bỏng còn đang bàn cãi giữa 2 phái khoa học
gia, và đề tài này hầu như che kín mọi hiện tượng khác ít được chú ý. Đó là hiện tượng El
Niño và La Niña, nguyên nhân thực sự ảnh hưởng đến các quốc gia quanh Thái Bình
Dương. Đây là hiện tượng giao động có chu kỳ làm biến động áp suất không khí và nhiệt độ
nước biển tại vùng nam Thái Bình Dương nhiệt đới (nên gọi là Giao động Nam Thái Bình
Dương – Southern oscillation), vùng biển giới hạn bởi đảo Tahiti và Darwin (Australia). Khi
nhiệt độ nước biển vùng này bị hâm nóng thêm +0,5 °C thì gây El Niño (còn gọi ENSO, viết
tắt của El Niño Southern Oscillation), hay nước biển lạnh hơn 0,5 °C dưới nhiệt độ bình
thường thì tạo La Niña. Nguyên nhân tại sao nước biển vùng này có khi nóng hơn, có khi
lạnh hơn, còn là một điều bí mật, các nhà khoa học còn đang nghiên cứu mặc dầu đã có
nhiều giả thuyết để giải thích (8).

El Niño
Khi nước biển vùng này bị hâm nóng, El Niño gây bão tố, mưa nhiều ở phần đông Thái Bình
Dương nhiệt đới tức Nam Mỹ và Trung Mỹ, và đồng thời gây hạn hán trầm trọng ở phần tây
Thái Bình Dương, đặc biệt trầm trọng ở vùng Đông Nam Á và Bắc Australia.  
Hiện tượng El Niño, không những ảnh hưởng đến các nước ven Thái Bình Dương (Á Châu
và Mỹ Châu) mà còn ảnh hưởng cả tới Đại Tây Dương, nhưng xảy ra trể hơn khoảng 12 tới
18 tháng, và ảnh hưởng tới Phi Châu và một phần Âu Châu
Tại Nam Mỹ, nhất là vùng Peru, Ecuador, El Niño bắt đầu với mùa hè nóng bức và mưa
nhiều từ tháng 12 đến tháng 2, tiếp theo là gây nhiều lụt lội dọc theo vùng duyên hải cho tới
tháng 5. Trong năm có El Niño, vùng biển kế cận Nam Mỹ không có luồng nước lạnh nên
nghèo chất dinh dưỡng và phiêu sinh vật, cá không sinh sản nhiều, ngược lại chim biển
tăng trưởng nhanh, nên nguồn cá trở nên nghèo làm thất thiệt kỹ nghệ đánh cá. Lụt lội gây
nhiều thiệt hại cho nông nghiệp ở vùng Nam và Trung Mỹ.
Ngược lại, tại Á Châu Thái Bình Dương, El Niño gây hạn hán trầm trọng cho cả vùng Đông
Nam Á và Bắc Australia, gây nhiều cháy rừng. Cũng trong thời gian có El Niño mực nước
biển ở vùng Tây Thái Bình Dương (tức Biển Đông) dâng cao hơn bình thường (vì vậy làm
sai lạc kết quả đo nước biển dâng cao).

La Niña
Ngược với El Niño, La Niña xảy ra khi nước biển vùng Tahiti – Darwin trở nên lạnh (giảm
khoảng 0,5 °C dưới nhiệt độ năm bình thường), ảnh hưởng tương đối ít hơn, gây hạn hán ở
Trung và Nam Mỹ, nhưng bão tố và mưa nhiều tại Đông Nam Á. Chẳng hạn, tháng 3/2008,
nước biển vùng Đông Nam Á trở nên lạnh, thấp 2 °C dưới nhiệt độ bình thường, gây mưa lũ
ở Mả Lai, Philippines và Indonesia. La Niña còn ảnh hưởng tới  vùng Đại Tây Dương nhiệt
đới,  gây bão tố, mưa lũ cho vùng Trung Tây Hoa Kỳ, nhiều tuyết hơn trong mùa đông ở
Canada.

Chu kỳ El Niño/La Niña
Cứ sau biến cố El Niño là La Niña, và sau La Niña là El Niño theo một chu kỳ thay đổi từ 2
đến 8 năm, nên khó tiên đoán được. El Niño kéo dài từ 5 tháng cho tới 18 tháng.
Các nhà khoa học cho biết là hiện tượng El Niño và La Niña đã xảy ra trên địa cầu từ lâu,
nhưng ghi được rỏ ràng từ 300 năm nay. Cũng có chứng cứ khoa học là hiện tượng này đã
xảy ra cách đây trên 10 ngàn năm, từ thời Holocene. Sau đây là những biến cố El Niño và
La Niña xảy ra trong 2 thập niên qua.

La Niña xảy ra: 1988/1989 (mảnh liệt, kéo dài hơn 5 tháng), 1995, 1998/2000 (rất lâu dài)
và tiếp theo là một La Niña nhỏ 2000-2001, tháng 6/2007 (La Nina nhỏ), và 2007/2008 (rất
mãnh liệt).

El Niño quan trọng xảy ra: 1790-1793, 1828, 1876-1878, 1891, 1925-1926, 1972-1973,
1982-1983, 1986-1987, 1991-1992, 1993, 1994, 1997-1998, 2002-2003, 2004-2005, 2006-
2007 và 2009-2010 (hiện nay). El Niño 1997-1998 làm thế giới nóng nhất trong thế kỷ,
nước biển vùng Thái Bình Dương nóng hơn 1,5 °C và làm chết một số san hô.

5. TIÊN ĐOÁN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI KHÁNH HÒA.
Thật là sai lầm, nếu chỉ dựa trên hiện tượng hâm nóng toàn cầu do IPCC chủ xướng, mà
không tính đến hiện tượng El Niño và La Niña cho Việt Nam nói chung, và Khánh Hòa nói
riêng. Hai hiện tượng này có thể lẫn lộn với nhau, khó phân biệt và tách rời.
Một câu hỏi thường được đặt ra là các số liệu nhiệt độ đo bằng máy (nhiệt kế thủy ngân,
biểu đồ ghi tự động dựa trên nguyên tắc giãn nở của kim loại trước kia, biểu đồ điện tử tự
động hiện nay) có chính xác không, qua các thời đại và chính xác tới mức độ nào, và có
được thường xuyên điều chỉnh theo nhiệt kế tiêu chuẩn không. Ngoài ra, các trạm khí tượng
được xây dựng hàng trăm năm trước, khi còn là vùng đồng quê trống trãi, có nhiều cây
xanh, nay đô thị hóa với nhà cao tầng, mái và vách bằng bê tông, lại thiếu cây xanh, khuynh
hướng gia tăng nhiệt độ đo được có thật sự tiêu biểu cho gia tăng nhiệt độ của vùng lớn,
hay chỉ phản ảnh “tiểu khí hậu” trong môi trường nhỏ hẹp, khép kín, bao vây bởi cao ốc?  
Chẳng hạn, trong 3 thập niên từ 1930-1960, nhiệt độ đo được tại Tân Sơn Nhất không thay
đổi, nhưng đột nhiên gia tăng kể từ thập niên 1970? Sự kiện đó có liên quan gì với dân số
tăng từ 1 triệu trước kia tới 8 triệu dân hiện nay, với xe cộ trước kia không có nhiều như
hiện nay?
Vì vậy, tác giả chỉ dựa trên dữ kiện của quá khứ để tiên đoán cho tương lai. Tại Nha Trang,
trong thời gian 1930-2000, nhiệt độ gia tăng 0,003 °C/năm, như vậy tới năm 2100 nhiệt độ
trung bình năm tăng thêm 0,3 °C, tức 26,5 + 0.3 = 26,8 °C, và tới năm 2200  nhiệt độ trung
bình năm sẽ là 26,5 + 0,6 = 27,1°C. Còn nếu tính theo vận tốc 0,009°C/năm (1), thì năm
2100 nhiệt độ trung bình năm tăng thêm 0,8 °C, tức 26,5 + 0,8 = 27,3 °C, và tới năm 2200  
nhiệt độ trung bình năm sẽ là 26,5 + 1,8 = 28,3°C.
Tại đỉnh Hòn Bà, nhiệt độ trung bình năm hiện nay là 17,4°C, sẽ là 17,7 °C hay 18,2 °C vào
năm 2100, và 18,3°C hay 18,9 °C vào năm 2200, nếu dựa lần lượt theo vận tốc gia tăng
0,003 °C/năm hay 0,009 °C/năm.
Tại Nha Trang, trong thời gian 1961-2007, vũ lượng trung bình năm gia tăng 6,454
mm/năm. Vũ lượng năm 2100 sẽ là 1800 mm/năm.


Tài liệu tham khảo chánh

1. Institute of Strategy and Policy on Natural Resources and Environment of Vietnam
(2009).  Vietnam assessment report on climate change.
2. Thomas Crowley (1996). Remembrance of Things Past: Greenhouse Lessons from the
Geologic Record. Consequences, Volume 2, No 1, Winter 1996. http://www.gcrio.
org/CONSEQUENCES/winter96/geoclimate.html
3. A.V. Fedorov et al. (2006). Science 312, 1485. 4. R.S. Bradley & J.A. Eddy (1987).
Nature, 329, trang 403-408.
5. R.S. Bradley & J. A. Eddy (1991), EarthQuest, vol 5, no 1.
6. Trương Mai Hồng và cộng sự (2010). Sự thay đổi cấu trúc vòng năm của cây du sam
(Keteleeria evelyniana), thông hai lá dẹt (Pinus krempfii), pơ mu (Fokienia hodginsii) và
thông ba lá (Pinus kesiya) theo các yếu tố hướng dốc, độ cao phân bố và khí hậu (đang in).
7. Nguyễn Đức Hiệp (2009). Di sản của rừng. Khoa Học & Đời sống http://www.khoahoc.
net/baivo/nguyenduchiep/040310-disancuarung.htm
7. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
8.Wikipedia (2009). El Niño-Southern Oscillation.

Phần 1. Nước biển dâng cao
Phần 3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên Khánh Hòa