Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt

                                               Phát triễn cho tỉnh Đắc Nông


Thô thiễn lạm bàn  vài huớng phát triễn cho tỉnh Đắc Nông, một tỉnh cuối Nam Tây Nguyên ,
dân gian phần đông còn nghèo  lắm ! trong khuôn khổ bảo vệ tòan vẹn lảnh thổ Việt Nam ,
không chỉ là đất riêng hòang triều cương thổ , bị phân chia để trị  thời chưa xa xưa mấy .
                                       G S Tôn Thất Trình   

                             
Một vài sự kiện lịch sử

Tỉnh Đắc Nông nguyên là tỉnh Quảng Đức thời Việt Nam Cộng Hòa . Tỉnh lỵ là Gia Nghĩa ,
tên một trong  những địa điểm dinh điền thiết lập  năm 1957, ở Cao Nguyên Trung Phần (
đất
Hòang Triều Cương Thổ - Domaine de la Couronne , Pháp chịu  trả lại  riêng cho vua
Bảo Đại,  để vua chịu nhận làm “ quốc trưởng “ Việt Nam,  năm 1950 ). Thực tế là năm 1692
,  chúa Minh Nguyễn Phước Chu ( 1691 - 1725 )  đã đánh vua Chiêm Thành  là Bà Tranh
cướp phá biên giới , đổi nước Chiêm Thành còn lại thành  trấn Thuận Thành , rồi thành phủ
Bình Thuận ( Phan Thiết ), thu phục nhiều tộc dân “Thượng” Đắc Nông là  M’ Nong, Koho ,
Stiêng,  Mạ, Chu ru,  Chăm (  Chàm , Chiêm Thành ), E đê ( Rhade ). Năm 1689, theo lệnh
Chúa Minh, Chưởng cơ  thống xuất Nguyễn hửu Kính ( Cảnh) chia  đất Đông Phố,  lấy xứ
Lộc Dã ( tức là Đồng Nai )  làm huyện Phước Long,  lập dinh Trấn Biên ( Biên Hòa ). Huyện
Phước Long và tỉnh Biên Hòa xưa cũ, đã  bao gồm luôn nhiều địa phận tỉnh Đắc Nông, Lâm
Đồng ngày nay.  Năm 1975, tỉnh Quảng Đức và Đắc Lắc nhập lại thành  tỉnh Đắc Lắc. Năm
2004, lại tách ra làm hai như trước năm 1975 và tỉnh Quảng Đức đổi tên là tỉnh Đắc Nông.

 
 Dân số Đắc Nông nay đa số đã là tộc dân Kinh và các tộc dân  Tày, Nùng miền Bắc

  Diện tích tỉnh Đắc Nông nay chiếm 6510 km2, Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc, Đông giáp tỉnh Lâm
Đồng, Tây giáp Cam Bốt và Nam giáp tỉnh  Bình Phước. Tỉnh Đắc Nông gồm 8 huyện, từ Bắc
xuống Nam là Cư Rút, Dak Mil, Krong Nô , Dak Song, Tuy Đức, Dak Glong, thị xã Gia Nghĩa
và Dak Rlap. Dân số Đắc Nông là 417 900 người năm 2005 ( năm 1996 là  363  000 ), gồm
31 tộc dân. Đông nhất là Kinh, thứ đến là  M’ Nong, Tày( Cao Bằng ) - Nùng ( Lạng Sơn )-
Dao ( Hà Giang, Tuyên Quang ) và E đê ( Rha đê ), Giẻ Triêng - Stiêng , Koho... Tộc dân
Tày -Nùng- Dao là thành phần  di cư từ miền Bắc sau năm 1975.
Năm 2006, thống kê cho
biết   tộc dân Kinh đã chiếm 70% dân số Đắc Nông, ít hơn tỉnh Bình Phước có đến  80- 90  
% Kinh,  nhưng đã  là  đa số dân cư  tỉnh rồi. Trong số  còn lại  không phải là Kinh , 30%  lại
là các tộc dân mới, từ miền Bắc : Tày- Nùng- Dao
. Tộc dân M’Nong là tộc dân được bên
ngòai biết đến nhiều, nhờ  công trình dân tộc học người Pháp  Condominas, sống chung
nhiều năm với dân M’ Nong, đã viết nhiều sách mô tả cuộc sống liên quan đến họ,  trong
cuốn “
nous avons mangé la forêt - chúng ta đã ăn hết rừng rú “. Tộc dân M’ Nong là tộc
dân hiếu chiến . Một thủ lảnh M’Nong đã cầm chân rất lâu các nhà thám hiểm Pháp, thời
Pháp thuộc.  Mãi đến khi nhà thủ lảnh này chết đi, người Pháp mới dám đi thám hiểm lại.
Dân Việt thì biết dân M’ Nong , vì trước đây có tục cà răng căng tai, để đeo đồ trang sức.
Tộc dân Mạ cũng có tục cà răng căng tại , cũng theo chế độ phụ hệ và  cùng ngôn ngữ hệ
Nam Á ( Austro - Asiatique ) của tộc dân M’Nong. Năm 1995, ước lượng tổng số tộc dân M’
Nong khỏang 46 000 người, chủ yếu ở 4 tỉnh Lâm Đồng, Đặc Lắc, Đắc Nông và Bình Phước.
Tộc dân E Đê chừng 140 000 người,  chủ yếu ở 4 tỉnh  Phú Yên, Khánh Hòa, đông nhất ở
hai tỉnh Đắc Lắc và  Đắc Nông. Độc đáo nhất là ngôi nhà dài  M’ Nông,  khác hẳn nhà sàn Ê
Đê,  mái buông chùm gần sát đất, kiến trúc lối cửa tò vò.  Mô týp trang trí  văn hóa vật chất
M’ Nông cũng như Koho, có nhiều nét tương đồng  mô týp văn hóa Đông Sơn .  

Địa hình, thủy văn Đắc Nông

Địa hình đặc biệt là cao nguyên Đắc Nông ( trước đây gọi là cao nguyên Gia Nghĩa , diện
tích  3800 km2, cao độ 600- 700m, vài nơi cao đến  1970m . Cao hơn  cao nguyên Đắc Lắc,
quanh thành phố  Ban Mê Thuột , trung bình  chỉ 400- 500m . Thời đại xa xăm địa chất,  hai
cao nguyên Blao- Di Linh và  Đắc Nông ( cao 800m ) là một khối thống nhất.  Nhưng bị họat
động đào xẽ của sông Đa Đung ( thượng lưu sông Đồng Nai ) đào xẽ, chia ra nhiều mảng
khác nhau.

Hệ thống sông ngòi Đắc Nông chia ra hai: một hệ thống  chảy về Biển  Đông và một hệ
thống chảy về sông Mê Kông.  Sông Đồng Nai phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên - Đà
Lạt, chảy xuống Di Linh qua địa phận cao nguyên Đắc Nông, rồi mới chảy  xuống miền Đông
Nam Bộ, gặp sông La Ngà gần Định Quán, gặp sông Bé gần Tân Uyên. Sau đó mới  họp với
sông Sài Gòn ở Nhà Bè, để chảy về  Cần Giờ ở biển Đông .

Sông Krong Nô  là một nhánh  của sông Srepok, một chi lưu lớn của sông Mê Kông, dài
332km. Sông Krong Nô  bắt nguồn  từ phía Tây Bắc cao nguyên Lâm Viện chảy theo  hướng
Đông Nam - Tây Bắc  và họp lại với nhánh thứ hai là  Krong Ana  thành sông Ea Krong, tạo
ra nhiều đất phù sa phía Đông Nam Ban Mê Thuột.

Ngòai các sông chính vừa kể  còn vô số, suối, khe, hồ, thác nước trong những cảnh sắc đồi
núi đẹp đẻ, có thể thu hút  du khách thập phương .

Nông nghiệp đất cao,đồi núi thích hợp cây trồng lâu năm, hướng về xuất khẩu,  thay
thế nương rẫy ăn hết rừng,  như nhà dân tộc học M’nong Condominas đã nói ở trên,
bổ sung nông nghiệp đất thấp đồng bằng lúa gạo chủ yếu.

Năm 2004, ước lượng chỉ còn 64 %  rừng. Chừng 87 % là rừng thiên nhiên, 2% là rừng mới
tái lập  và 11 % là đồi troc.  Có 2 khu vực bảo tồn  thiên nhiên ở Đắc Nông là Nậm Cà và
Nậm Nung và một  khu bảo tồn đang đề nghị. là Ta Đung. 5 lòai cây trồng đa niên ( lâu năm
) hiện phát triễn mạnh ở Tây Nguyên : cà phê ,  hột điều  ( đào lôn hột ) , cao su , tiêu, trà  
có thể giúp định canh  thay thế nương rẫy  phá rừng,  trồng hoa màu thực phẩm lọai hàng
niên, phải luân canh sau một thời gian khai thác, dài  - ngắn tùy mật độ dân cư nhiều ít.  
Nhưng nay thời gian để đất nghỉ quá ngắn vì dân số gia tăng, rừng chưa mọc kịp tái tạo phì
nhiêu, đã phải khai thác làm rẫy lại, biến rừng thành đồi trọc, đồi cỏ tranh, dễ bị xói mòn hơn
là trồng những cây  lâu năm, rễ ăn sâu xuống đất hơn

Cà phê

Trước tiên là cà phê, được một hội truyền giáo du nhập vào Tây Nguyên khỏang năm 1860,
nhưng không phát triễn nhiều, ngọai trừ hai đồn điền lớn đặc biệt ở tỉnh Đắc Lắc  CADA (
thuộc hệ thống nhà băng Đông Pháp , trước tiên trồng cà phê  chè arabica  nhập từ các
thuộc địa Hà Lan  Inđônêxia - quốc gia đã  thiết lập  vườn cà phê từ năm  1696 và xuất khẩu
cà phê lần đầu tiên năm 1711 -, nhưng arabica bị bệnh rỉ lá tàn phá hết ) và CHPI  chuyên
trồng cà phê vối Robusta và mốt số đồn điền nhỏ hơn , trồng nhiều lọai cà phê lá mít Coffea
excelsa hay Liberica,  đất cấp  không cho cựu quân nhân Pháp thuộc địa. Khỏang các năm
1970- 1975, một số đồng bào Kinh di cư tự động  và một số tiểu điền chủ Kinh  quanh  Ban
mê Thuôt trên đường vào huyện  hồ Lak (Lạc Thiện) và đường về Ninh Hòa ,  phát triễn cà
phê tiểu điền, áp dụng thêm  
phương pháp tưới mưa phùn - sprinkler irrigation  bảo vệ mùa
hoa nở, đậu trái, khi bị nắng hạn đầu mùa . Nhưng diện tích cà phê Tây Nguyên ( kể luôn cả
Đắc Nông , LâmĐồng,  Bình Phước , Đồng Nai …  ) không mấy quan trọng thập niên 1965-
75, vì chiến tranh lan rộng. Chỉ phát triễn mạnh kể từ thập niên 1990 ( tuy Việt Nam đã khởi
sự tái xuất khẩu cà phê năm 1980 ) đến nay. Từ năm 1975 đến năm 2005, diện tích tiểu
điền  cà phê Việt Nam ( phần lớn còn nắm trong khuôn khổ “nông trường “ và  “lâm trường )
đã tăng lên gấp 10 lần, nhất là cà phê vối
Robusta,  Coffea canephora . Riêng tỉnh Đắc Lắc,
trước khi chia hai, năm 2003, chiếm 60 % diện tích 260 000 ha, xuất khẩu 405 000  tấn  
nhân cà phê .
Đưa Việt Nam lên hàng thứ hai  các quốc gia sản xuất cà phê trên thế giới 990
000 tấn nhân hột xanh, trên hẳn Inđonêxia 622 986 tấn và Colombia 558 000 tấn, chỉ sau
Brasil  2 179 000 tấn. Nếu chỉ tính theo cà phê vối Robusta, Việt Nam  đứng hạng nhất sản
xuất và xuất khẩu,  vì cà phê Brasil cũng như Colombia,  đa số là cà phê chè.  Ở Inđônêxia,
cà phê lọai arabica chiếm 25 % tổng số . Huyện Krong Nô ( ? ) cũng nổi tiếng về cà phê
ngon Robusta. Năm 1980,  Việt Nam  chỉ trồng được  22 000 ha cà phê. Năm 2008, Việt
Nam đã  trồng hơn 500 000 ha cà phê , mức sản xuất khỏang 1 triệu tấn nhân. Tiêu dùng
trong nước khỏang 7 % mức sản xuất , còn lai xuất khẩu.  Tuy năm 2008,  số lượng xuất
khẩu giảm gần 18 % , giá  cà phê lại tăng 7,2 % đạt 2 tỉ  đô la Mỹ. Cà phê Việt Nam đã có
mặt trên  75 quốc gia trên thế giới, nhưng nhập khẩu chánh cà phê Việt Nam là Hiệp hội Âu
Châu, Hoa Kỳ, Nhật Bổn và Hàn ( Nam ) Quốc.

Ngòai vấn đề điền địa, quyền sở hửu chủ giữa tiểu điền và quốc doanh, tranh dành đất giữa
đồng bào Kinh, đồng bào dân tộc thiểu số mới hay cũ, đã giải quyết phần nào, nhưng chưa
mỹ mãn, chưa hòan tòan khắc phục, còn các vấn đề kỷ thuật và kinh tế. Trong những vấn
đề kỷ thuật, phải kể đến là tăng cường  chống xói mòn  các vườn cà phê sườn đồi núi, đất
dốc, bảo đảm  năng xuất cao mà không tưới nước , mất nước qúa độ  ( thay thế tuới kiểu
mưa phùn bằng
tưới nhỏ giọt - drip irrigation, kiểm sóat bốc thóat hơi nước -
evapotranspiration cận đại nhất theo lasers ?  
…  ),  dùng tiết kiệm  phân hóa học, thuốc
bảo vệ mùa màng (
cà phê hửu cơ ? ) hay làm ô nhiễm môi trường, khảo cứu tuyễn chọn
trong tập đòan cà phê Robusta Việt Nam những dòng cao năng, siêu năng hơn như đang
làm ở Ấn Độ , Indonesia …, thử nghiệm thêm các dòng lai mới arabusta  ( lai giữa Arabica x
Robusta ) Pháp tuyễn chọn ở Côte D’ Ivoire, thích nghi cho mỗi huyện, mỗi địa phương. Địa
thế cao nguyên Đắc Nông thường cao hơn cao nguyên Đắc Lắc, nên cố gắng thử nghiệm
những dòng, giống cà phê chè Coffea arabica kháng bệnh rĩ sắt, kháng mọt cành hay lai
arabica x robusta ( arabusta ), bán  giá cao hơn Robusta trung bình 30 % ở thương trường
quốc tế. Như các dòng Catimor cao năng, cao phẩm hơn các dòng Catimor cũ  phẩm gía
còn kém,  như các dòng lai mới Hybrid de Timor , Mandehling Sumatra, Moka Java, các
dòng lai mới Arabica ở Brasil, càc dòng Arabica cao phẩm Colombia ...Giúp đở các tiểu điền
duy trì tình trạng tốt đẹp  cạnh tranh ở thương trường, vì phí tổn sản xuất năm 2007- 2008
chỉ chừng 600- 650 một tấn nhân xanh, trong khi giá cả xuất khẩu là 1500 - 2000 đô la một
tấn. Bằng cách  hổ trợ hướng dẫn kỷ thuật, khuyến nông, khuyến mãi, cũng cố hạ tầng cơ
sở nhất là mở đường ra vào các vưòn cà phê xa xôi hẻo lánh ( mà không bị tham nhũng
lũng đoạn làm dối hay không làm), tăng cường cung cấp điện, nước cần thiết cho chế biến
sơ khởi, nâng cao sản xuất các lọai cà phê tốt, qua quốc doanh VICOFA hay qua các đại
diện thu mua 4 công ty  ngọai quốc chế biến cà phê Việt Nam là Kraft, Nestlé , Procter and
Gamble và Sara Lee. Tìm các cơ chế  tín dụng thích hợp  chống thăng trầm thị trường  quốc
tế  cà phê đốn bỏ  cây cà phê hay  phá hư những chương trình chống đói giảm nghèo, gây
biến lọạn, như đã xảy ra  các năm 1975- 80,   
khi Thỏa hiệp Quốc tế Cà phê- Internatiobal  
Coffee Agreement
phá sản hay giá cà phê  sụt nhiều các năm 2001 - 2006 .

Hột điều ( cashew nut tiếng Anh, noix de cajou, pomme cajou  hay fruit  et amande de l’
anacardier, tiếng Pháp)

Hột điều là nông phẩm cây trồng  đất cao đa niên đứng hàng thứ hai, sau cà phê ở tỉnh Đắc
Nông. Hột điều là cây tương đối xứ nóng  hơn,  phần lớn trồng ở   miền Đông Nam Bộ .
Nhiều nhất là ở  hai tỉnh Bình Phước và Đắc Nông.  Bình Phước ( nhập hai tỉnh cũ là Phước
Long và Bình Long thời Cộng Hòa ) cũng là 2 tỉnh trồng nhiều hột điều nhất nước,
chiếm 35
% diện tích tòan cỏi Việt Nam,  năm 2005 là 116 029 ha , trên tổng số tòan cỏi Việt Nam là
328 000 ha . Tỉnh Đắc Nông thua xa Bình Phước, chỉ trồng được 20 930 ha.
Tuy nhiên, mức
gia tăng trồng hột điều ở Đắc Nông, năm 2004 tăng 266% so với năm 2003 ( từ 2507 ha
đến 6665 ha ), và năm 2005 tăng 314 % ( 20 930 ha ). Gia tăng quan trọng,  vì hai tỉnh này
sản xuất hột điều cao năng nhất nước, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghệ.chế
biến, hiệu năng xuất khẩu cao  và đóng vai trò cải  thiện lớn lao cho các công cuộc cải tiến
đời sống kinh tế xã hội nông dân địa phương. Đặc biệt ở huyện Dak Rlap ( Kiến Đức ), giáp
tỉnh Bình Phước,  tuy rất đông các tộc dân địa phương, chuyên làm nương rẫy, từ năm 2002
đến năm 2005 đã có sác xuất  trồng hạt điều cao nhất.  
Năm 2004, Đắc Nông đã xuất khẩu 23 406  tấn nhân hột điều ( Bình Phước, 5406 tấn ) .
Mức xuất khẩu Đắc Nông năm 2005 là 7 861 tấn và Bình Phước chỉ 4 712 tấn . Sở dĩ Đắc
Nông xuất khẩu nhiều hơn  mức sản xuất là vì  những công ty chế biến  hột lấy  nhân  có thể
mua hột còn vỏ cứng  ở các tỉnh lân cận như Bình Phước, để chế biến và xuất khẩu nhân
hột điều. Theo hiệp hội VINACA,  đại diện các nhà chế biến và xuất khẩu hột điều, Việt  Nam
đã trồng 380 000 ha cây hột điều năm 2008, cải thiện hay trồng thêm, tháp tinh dòng cao
năng được khỏang 160 000 ha, kể từ năm 2005- 2006. Năm 2010,Việt Nam dự trù  sẽ trồng
được 450 000 ha hột điều, sản xuất 500 000 tấn nhân,  trị giá 650 - 800 triệu đô la Mỹ ( trị
giá xuất khẩu hột điều năm 2006 đã đến 500 triệu ).  Tuy vậy, vẫn chưa đủ hột điều còn vỏ
đủ thõa mãn nguyên liệu cho hơn 200 hảng chế biến hột điều trong nước; cần nhập khẩu
thêm, năm 2010,
khỏang 125 000 tấn hột còn vỏ cứng từ Mozambique, Tanzania và
Inđônêxia
.  Sở dĩ như vậy là vì các năm gần đây giá cao su thiên nhiên lên cao , các nhà
vườn hột điều nhổ bỏ cây điều làm củi , trồng cao su thay thế, như dân Côte D’Ivoire hai
năm nay cũng đốn bỏ cà phê vối,  trồng cao su thiên nhiên . Theo nghiên cứu của đại học
Nông Lâm Thủ Đức năm 2005- 2006 ,
45 % tiểu điền  trồng hột điều  ở Đắc Nông là các tộc
dân địa phương
, nhưng chương trình trồng các giống hột điều  hay  tháp tinh dòng cao
năng  chưa mấy thành công với các tộc dân địa phương chỉ trồng giống sa cạ, năng xuất
kém , phẩm gia kém, lấy  hột giống từ cây vườn không xá kể giống tuyễn chọn mới .  
4 bước  chánh  chế biến trái hột điều là
phơi-sấy khô - drying , hấp bằng hơi nước -
steaming, lột vỏ- peeling  và chế biến ( đốt vỏ ) lấy nhân - kernel processing.
3 bước đầu  có
thể làm ngay tại nông trang , tiểu điền.  Các công ty chế biến trang bị đốt vỏ hột lấy nhân,
trước đây làm luôn cả 4 bước;  nay dần dần nhường 3 buớc đầu  cho nông trang , tiểu
điền,  đem thêm lợi tức cho nhà vườn tiểu nông. Tuy nhiên 3 bước hậu thu họach này chưa
phát triễn  ở Đắc Nông, như đã xảy ra ở Bình Phước, vì ngành trồng hột điều tỉnh này còn
tương đối mới mẽ, chỉ mới khuếch trương 7- 8 năm nay  thôi; cơ chế thu mua ( gồm mức 1
và mức 2, xem hình  đính kèm) và hạ tầng cơ sở chế bíến chưa đủ phát triễn  xuống tận
nông trang tiểu điền .Ước luợng chế biến trái hột điều có thể nâng cao thêm lợi tức tiểu điền
75 % nữa .

Hòan tất đa lọai thêm mô hình  cây trồng lâu năm bao phủ đất cao bền vững môi sinh hơn,
thay thế cây thực phẩm hàng niên nương rẫy. Nhưng đừng quên phát triễn thêm trong
tương lai các lòai  cây ăn trái , rau hoa, chăn nuôi (kể luôn cả cá và các động vật  thú rừng  
nai,  mểnh, hươu sao,   nhím …  ),  theo thế 3 chân vạc nông , lâm và chân nuôi.
2 lòai cây trồng lâu năm khác thích hợp đất cao, phát triễn mạnh mẽ các tỉnh quanh Đắc
Nông, bắt đầu tràn  qua các huyện Đắc Nông lân cận.

Tiêu

Trước tiên là tiêu, tiêu trắng ( tiêu sọ ) lẫn tiêu đen. Tỉ lệ tiêu trắng khỏang 12-20 % tổng số.
Năm 2007- 2008, tiêu trồng nhiều nhất ở các tỉnh Bình Phước 12 300 ha, Đắc Lắc 9000 ha,
Bà Rịa - Vũng Tàu  6800 ha, Đồng Nai  7586 ha,  Gia Lai 5500 ha, Quảng Trị 2150ha, Bình
Thuận 2300 ha, các tỉnh khác ( Hà Tiên - Phú Quốc…. ) 4369 ha .
Mức xuất khẩu tiêu năm
2008 chừng 87 000 tấn, trị giá  310 triệu đô la Mỹ
.. Hoa Kỳ nhập khẩu 20%  tiêu Việt Nam,
từ năm 2005.
Việt Nam đã là quốc gia  đứng hạng nhất thế giới xuất khẩu tiêu năm 2003,
đạt 82 000 tấn,  trên hẳn ba quốc gia sản xuất nhiều tiêu là Ấn Độ, Brasil và Inđônêxia
. Một
bước tiến đáng kể, vì các năm 2001- 2002 chỉ xuất khẩu  tiêu trị giá 100 triệu đô la. Mức
xuất khẩu số lượng  tiêu cao nhất vào năm 2006 , đạt 117 670 tấn,  gồm 98 798  tấn tiêu
đen và 17 872 tiêu trắng.
Nhưng năm 2007 xuất khẩu giảm đi chỉ còn 82 907 tấn ( 71842
tấn tiêu đen và 11062 tấn tiêu trắng
) . Ủy ban Tiêu Quốc tế - IPC  ước lượng khả năng xuất
khẩu tiêu Việt Nam những năm tới  là 90- 100 000 tấn tiêu.  Nếu không đẩy mạnh thêm được
những chương trình tuyễn chọn giống cao năng  hơn, kháng
các bệnh héo rụi tươi -
Phytophthora hay  kháng tuyến trùng - nematodes ( ? )
cây tiêu hơn , chẳng hạn .

Cao su thiên nhiên ( cao su Para )

Cây đa niên thứ hai đất cao chưa tràn qua nhiều ở Đắc Nông từ Bình Phước, là cao su thiên
nhiên .  Cũng như hột điều, cà phê , mía …nông dân đốn bỏ hay trồng lại cao su, tùy theo
thăng trầm giá cả quốc tế. Từ hai năm nay, cao su thiên nhiên được giá, vì giá dầu lữa chế
tạo cao su  làm tăng  giá cao su nhân tạo và ngành sản xuất lốp xe  ở Trung Quốc , Ân Độ ,
Hàn Quốc … cũng phát triễn song song với công nghệ xe hơi. Trung Quốc nay cũng đã
trồng được 875 000 ha cao su thiên nhiên ở Hải Nam , Quảng Tây , Quảng Đông, mới bắt
đầu ở Vân Nam  và sản xuất 570 000 tấn, đứng hàng thứ 5 trên thế giới sau Thái Lan ,
Inđônêxia, Malaysia và Việt Nam .
Việt Nam duy trì hàng thứ 4,  sản xuất trên 600 000 tấn,  
tuy diện tích năm 2007 ít hơn Trung Quốc, chỉ 550 000 ha, nhưng năng xuất trung bình cao
hơn
. Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu nhiều cao su  thiên nhiên Việt Nam, vọt mạnh từ năm
2005,  vì  yêu cầu nội địa Trung Quốc lên đến 1.7 triệu tấn cho 45 nhà máy  chế tạo lốp xe
hơi .   

 
Việt Nam dự trù sản xuất  một triệu tấn cao su thiên nhiên các năm 2010- 2015 với diện tích
700 000 ha , chưa kể khỏang 200 000 ha, Hiệp hội Cao su Geruco và các công ty em  dự
tính đầu tư trồng cao su thiên nhiên ở Lào và Cam Bốt.  
Bình Phước là tỉnh trồng cao su trên
đất đỏ basalt lớn nhất ; năm 2003 chỉ  có 81 117 ha , năm 2007 đã trồng được 138 100 ha.  
Năm 2007, Đắc Nông cũng đã trồng được  trên 38 000 ha , cao hơn diện tích cao su  tỉnh
Đắc Lắc chỉ trồng 30 000 ha, Lâm Đồng 14 000 ha, còn  thua kém  diện tích cao su Gia Lai
64 000 ha và Kon Tum 56 000 ha. Trong tổng số diện tích cao su ở các tỉnh  Tây Nguyên,
nay vào khỏang 200 000 ha .

Phát triễn  và  tăng thêm  diện tích cao su thiên nhiên ở Tây Nguyên ( trong đó có Đăc Nông
) và các tỉnh miền Bắc tùy thuộc vào tuyễn chọn các tinh dòng cao năng chịu mát lạnh hơn,
cả Mã Lai Á ( RRIM mới ), miền Bắc Thái Lan  và Trung Quốc ( hình như Sơn La vừa mới
trồng thử một dòng cao năng  cao su Hải Nam ( ? )  đặc biệt chịu lạnh ) . Tốt hơn nữa là tân
tạo cao su tiểu điền theo thế nông lâm ( trồng các tinh dòng vừa cho nhiều
mủ - latex , vừa
mau cho gỗ tốt của Mã Lai Á ) hay nông lâm mục ( nuôi thêm gia súc, bò dê cừu… giữa các
hàng cao su trưởng thành , sau khi cải thiện chống cỏ tranh bằng các cây che đất họ đậu,  
cũng làm được thực phẩm gia súc tốt , ngay cả bò sửa trước đây đôi khi đã thử nghiệm ở
Đăc Mil hay trâu sửa - tại sao không ?như ở Mộc Châu miền Bắc). Tưởng cũng nên nhắc là
nhiều lọai gỗ cao su đã được ưa chuộng ở Nhật và ngành  công nghệ đồ gỗ  mấy năm sau
này rất thịnh vượng ;
mức xuất khẩu năm 2007 đã trên 2.3 tỉ đô la Mỹ ( năm 2000 chỉ mới
xuất khẩu 200 triệu ), dự tính tăng lên đến 5. 5 tỉ đô la các năm 2010 - 2020 ( ? ).
Nhưng trà , cacao và các cây ăn trái bán ôn đới hay chịu mát lạnh hơn chưa bành trướng

Trà Bảo Lộc dân Kinh di cư từ miên Bắc các năm 1955- 1957 phát triễn manh mẽ ,  ngược
lại vẫn chưa tràn mạnh  lên các huyện  Nam Đắc Nông phía Bắc Lâm Đồng. Diện tích trà cả
nuớc từ
gần 10 năm nay chỉ trên, dưới 85- 100 000 ha, năng xuất còn kém cỏi dưới 1 tấn/ha
trà búp khô, chưa phát triễn các lọai trà Assam năng xuất cao  hơn và thích hợp làm trà đen
hơn, Việt Nam dễ cạnh tranh hơn trà xanh chế biến  theo kiểu Trung Quốc hay Nhật Bổn.  
Ca cao cũng chỉ mới phát triễn ở  Ea Tul, tỉnh Đắc Lắc , chưa phổ biến  đến các huyện Cư
Jut - Ea Ting , Krong Nô. Ngòai các cây trái cỗ truyền ( chuối đủ lọai, nhãn, vải, chôm chôm,
mít, đu đủ, ổi , xoài, xa pô chê, mảng cầu, nhưng nên trồng mảng cầu tây xứ mát là
cherimola, thơm tây Smooth Cayenne lọai mới như Gold Hawai  đồng bào Nùng đã trồng
nhiều giống thơm cũ ở Tùng Nghĩa - Lâm Đồng, cam quít chanh - giống Bears  chịu lạnh
hơn  của Ca Li chẳng hạn -…,    3 ngành cây ăn trái mới đáng chú ý cho tỉnh Đắc Nông là
Sầu riêng  trước đây đã sản xuất trái ngon ở  Di Linh, nay đã có thêm các giống Mon Thong
Thái Lan hay các giống lai Thái - Mã Lai,  ngon hơn  nữa ,  trên đường « mòn «  
Kiển Đạ -
piste Kinda
«  nối Phan Thiết với Ban Mê thuột qua Di Linh , Gia Nghĩa , Dak Song , Dak Mil.
Thứ đến là  
Cây Bơ- avocado( avocatier )  dễ trồng ở vườn tượt quanh nhà  Kinh hay ỏ
quanh các nhà dài cộng đồng tộc dân, làm
tương chao  bơ - guacamole, ăn tươi pha trộn
rượu đế kiểu margarita, hay xuất khẩu trái như  Mexicô, quốc gia trồng trái bơ nhiều nhất
thế giới.trên mọi cao độ và vĩ tuyến ,  đã xuất khẩu sang Hoa kỳ, gần phân nữa sản lượng
trái bơ tiêu thụ ở Hoa kỳ năm 2008 là gần một tỉ cân Anh.Việt Nam đã trồng được giống bơ
vỏ tím cao giá Haas, nhưng tưởng cũng nên  thử nghiệm thêm các giống Ca Li cho là ngon
như Fuerte trái to và cao phẩm, giống  mới Lamb Haas, giống Gwen cũng to hơn Haas,
giống Pinkerton hột đặc biệt nhỏ, giống Reed to và tròn  thay vì hình trái lê, giống Zutano  
thu họach trái mùa thu và đầu tiết đông ở Ca Li, thay vì mùa hè, vỏ láng bóng màu xanh
vàng lợt. Trái cây thứ ba nên khuyến khích, có thể trồng giữa các vườn cà phê , thay thế
các vườn  phần nào hột điều khi rớt giá,  ở  đồi núi cao độ hơn là cây
Dẽ Bi- macadamia nut
chẳng hạn cũng đã trồng nhiều ở Úc và ở Tân Tây Lan va hình như đã thành công ở Lạng
Sơn ?

Lẽ dĩ nhiên là cũng không nên quên cây mía , không phải để làm đường cong nghệ mà là
các giống mía  mềm dễ ép làm nước uống, các  cây khoai mì ( sắn ), khoai mở, khoai sọ,
khoai môn… cao năng quanh nhà, phòng khi hạn hán, mất mùa đói kém. Ngay cả khuyến
khích các đồng bào Tày , Nùng , Dao , Kinh
đắp bờ - terracing,  làm các ruộng lúa nước dọc
các thung lũng, hồ suối  và nuôi cá xứ mát hơn ở các nơi này như họ đã làm ở một số đồi
núi miền Bắc.

Khai thác , chế biến bauxit, mở đầu công nghệ hóa Tây Nguyên

Khai thác  bauxít , nhưng theo đúng kỷ thuật hiện hửu, cố sức tránh ô nhiễm môi trường và
nghĩ cách tái dụng đất dai các quặng mỏ đã khai thác

 Bauxít Việt Nam hình như thuộc hai nguồn gốc địa chất .  Nguồn trầm tích là các mỏ  bauxit
Hà Giang, Cao Bằng , Lạng Sơn , Bắc Giang , Sơn La và Nghệ An . Nguồn  gốc laterit biến
đổi từ các đá basalt là ở Kontum , Đắc Nông, Đồng Nai, Phú Yên , Quảng Ngải.

    
Tỉnh Đắc Nông chứa bauxit  nguồn gốc latêrit- basalt, 80 % trử lượng tòan quốc và dễ
khai thác

Trử lượng bauxit Việt Nam đứng hàng thứ 4 trên thế giới, sau  Úc Châu, Guinée và Brasil .
Trử lượng cả hai nguồn gốc là 2 772 triệu tấn , bauxit laterit chiếm khỏang 2 258 triệu tấn.  
Nhưng trử luợng bauxit laterit có thể tăng gấp đôi, vì trước đây không ước lượng những mẩu
quặng nhỏ hơn 0.5 - 1mm ,  hàm lượng Alumin (Al2O3 ) khỏang 45 %.  
Trử lượng bauxit Việt
Nam  thật sự có thể lên đến  6650 - 7600 triệu tấn.

Đắc Nông chiếm 80 % trử lượng này. Mạch quặng  gần mặt đất 0.5- 1m , có thể khai thác lộ
thiên, dài 0.2 - 7km, dày trên 10 m.Thuộc lưu vực hai sông lớn Đồng Nai và Srepok , phụ lưu
sông Mê Kông ở Tây Nguyên ,  kéo dài qua tận bên kia biên giới Cam Bốt.  

Đắc Nông có 7 vùng mỏ bauxit , diện tích 1910 km2, gần 1/3 diện tích tòan tỈnh :  mỏ Tuy  
Đức ở cả 3  huyện Tuy Đức , Dak Song và R’ Lap rộng 354 km2 ;  vùng mỏ Dak Song  
huyện Dak Song  300km2 ;  vùng mỏ phía Bắc Gia Nghĩa I rộng  300km2 ; vùng Gia Nghĩa II
rộng  228km2 ;  vùng mỏ làng Nhân Cơ ở huyện Dak R’ Lap rộng  510 km2 ; vùng mỏ 1-5  
huyện DakMil  rộng 195km2, vùng mỏ  Quảng Sơn huyện Dak Glong rộng 150 km2.

Trước đây có dự án sàn sảy , rửa sạch quặng khai thác ở Đắc Nông , rồi chở đến các cảng
Bà Riạ Vũng Tàu hay ở cảng mũi Kê Gà ( ? ) tỉnh Bình Thuận, chế biến thành alumin
và làm
điện phân - electrolyse
,  tạo kim lọai aluminium. Nhưng  Đắc Nông chống đối việc chế biến
bauxit thành aluminium ở các tỉnh khác .

4 dự án chế biến thành bauxit thành kim lọai

Năm 2007, Vinacomin ( TKV )  được giao trách nhiệm hòan thành 4 dự án Phức tạp công
nghệ - industrial complexes
,  khai thác bauxit Đắc Nông :

       - Dự án Chanco Corp. của Trung Quốc đầu tư khai thác mỏ vùng 1-5 , sản xuất 1.9
triệu tấn Alumin. Cần tránh Trung Quốc làm ô nhiễm môi trường ở dự án này , như Vedan
Đài Loan đã làm ô nhiễm nhiều nơi khi sản xuất bột ngọt từ khoai mì ( sắn )

- Dự án Alcan Corp.  khai thác mỏ phía Bắc Gia Nghĩa I , sản xuất 3 triệu tấn

         - Dự án BHP Billiton Corp . của Úc , khai thác vùng mỏ Tuy Đức, Dak Song và bên kia
biên giới ở Cam Bốt.. TKV mong muốn BHP đầu tư ít nhất 19 % cỗ  phẩn ở Cam Bốt    
 
         - Dự án đã khởi công xây dựng ở Nhân Cơ, dự tính họat động vào năm 2010 , sản
xuất 300 000 tấn Alumin ở giai đọan 1. Tỉnh Đắc Nông mong muốn nhờ dự. án này gia nhập
«  Câu lạc bộ công nghệ  nước nhà có  lợi tức trên 1 tỉ đô la Mỹ « , vì hiện nay giá alumin  là
350 - 370 đô la một tấn .  Dư án này phải dự trù làm nhà máy nhiệt điện 10 000 KW , vì
chưa làm đủ thủy điện  ở Đắc Nông ( ? ) . Giai đọan 2 sẽ tiến tới việc điện phân , tinh lọc
alumin thành kim lọai aluminium.  Nhắc lại  là kỷ thuật tân tiến cũng cần 13 500 KW- giờ (
hour ) điện để  để sản xuất ra một tấn aluminium . Điện phân làm ra kim lọai sơ khởi -
primary metal cần rất nhiều điện , chiếm 66.4 %  tổng số năng lượng chu trình chế tạo , từ
bauxit thành Alumin chiếm 18.2 % ,  làm cuộn nhom 4.6% , các sản phẩm công nghệ nhom
3.1 %, bao bì 4 % …
.    
Dự án Nhân Cơ hy vọng sẽ tạo ra 2000 công việc chuyên môn . Hoàn tất mọi phức tạp chế
biến bauxit ,  sẽ cần đến  20 000 chuyên viên đủ lọai , cho nên Đắc Nông cần có một
chương trình đào tạo huấn nghệ cấp thiết ; không nên quên huấn nghệ cả  các tộc dân
ngoài Kinh, địa phương và di cư sau 1975.

 
Những vấn đề liên quan công  nghệ bauxit- aluminium,  chưa có giải đáp dứt khóat
Đó những khía cạnh ảnh hưởng môi trường hậu khai thác - postmining exploitation .  Đất đỏ
chứa bauxit rất mềm, dễ bị xói mòn, sụp lở đường xá  vùng mỏ , đọng bùn  ở dòng sông , hồ
suối , ngăn cản dòng chảy , gây lụt lội. Đắc Nông cũng chưa có dự án  tái dụng vùng mỏ đã
khai thác , tái định cư dân gian thích đáng,  khi họ phải di dời . Phương cách kiểm sóat bụi  (
hạt tử ô nhiễm như polycyclic hydrocarbons , fluorides),  cặn bả dầu  khi khai thác và chế
biến, các cặn bả bauxit  ( một phối hợp nước , cặn bả
trơ - inerte  từ oxyd sắt , màu đỏ , tro
caustic soda  khi chế biến  bauxit thànhra alumin )  và các chất dộc hại nhà máy tinh loc ra
aluminium  đặc biệt là polycyclic aromatic hydrocarbons-  PAH , có thể gây ra ung thư , nhất
là khi phải thay thế các lò nung chảy 5-  7 năm một lần v.v…  Nhiều phương pháp giảm ô
nhiễm nay đã được các công ty lớn công nghệ aluminium áp dụng ,như bải bỏ   kỷ thuật
Solderberg,  sử dụng kỷ thuật
lọc -kỳ cọ khí- gas scrubbber,  tái dụng  cặn bả bauxit làm  
bauxaline  trải lót  đường,  làm sàn  măt đất  che chở  các nơi vất bỏ phế thải …cần ứng
dụng ở  vùng mỏ , vùng chế biến quặng bauxit Đắc Nông .

Ngòai bauxit , tưởng Đắcnông cũng không nên bỏ quên khai thác mỏ vàng và nhất là  các
mỏ đá quí thạch  như ở  Dak Mil.  Năm 2008 Việt Nam đã xuất khẩu một số lượng quí thạch
trị gía trên 700 triệu đô la.

Tương lai Tây Nguyên và Đắc Nông là thực thi Thỏa hiệp Tam Giác Phàt Triễn -
Development Triangle   Cam Bốt , Lào và Việt Nam , phía Tây Nam Trường Sơn

Tam giác này  rộng 111 021km2  , dân số hiện nay là 4,4 triệu người.  Ở Lào là các tỉnh
Attapeu , Saravan , Sekong  rộng 28 657 km2 . Ở Cam Bốt là các tỉnh Mondulkiri ,
Ratanakiri, Stung Streng rộng 37 636 km2. Ở Việt Nam là các tỉnh Dắc Lắc , Đắc Nông , Gia
Lai ( Pleiku ) và Kontum rộng 44 710km2 .

Mọi cây  đa niên và nông phẩm kể trên cho Đắc Nông,  đều có thể phát triễn thêm  ở tam
giác này, phía Cam Bốt và Lào .  Các tỉnh Cam bốt còn đến hơn 700 000 ha đất đỏ basalt
hoang vu . Và chăn nuôi súc vật ở  Cam Bốt có thể mạnh hơn ở Tây nguyên Việt Nam nữa
.   Quặng bau xít  thô sơ ở Cam Bốt ước luợng dến 305 tỉ tấn ; số khai thác tốt đẹp hiện
chừng 1.5 tỉ tấn.   Đá quí , đồng , thiếc , vàng… cũng nhiều ở Tam Giác . Nhưng đặc biệt
phong phú là nguồn thủy điện to lớn chưa khai thác của sông Srepok , phụ lưu sông Mê
Kong  . Các chi nhánh ở Việt Nam là Ea H’leo , Krong Ana ,  Krong Nô….,  phía Cam Bốt là  
Prec Chba, Dac Dam , Prec Drang. Đáng kể trên hết là  đập thủy điện ở Thác Khôn, thuộc
hai tỉnh Stung Streng ( Cam Bốt ) và Champassak ( Lào )    công  xuất lên đến 750 000 KW  
và đập Stung Strenng  ước lượng đến  3 400 000 KW , lớn hơn cả đập Sơn La  .

(Irvine , Ca Li,  ngày 0-4 tháng giêng 2009 )