Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
  Biết rỏ hơn về Lạng Sơn tỉnh địa đầu chống xâm lược
                              (tiếp theo và hết)  
 
  
•       
 Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang, chủ tướng quân Minh bỏ thây ở Mã Yên

     Cuối năm 1427,  khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lảnh đạo chống quân
Minh xâm lược, bước sang năm thứ 10, đang đứng trước ngõ thắng lợi hòan tòan . Quân
Minh co lại, chỉ còn chiếm giữ thành Đông Quan ( Hà Nội ). Giặc Minh  phái sang nước ta
một đạo quân viện lớn  do Liễu Thăng chỉ huy. Cánh quân thứ nhất do Liễu Thăng trực tiếp
chỉ huy, gồm gần 100 000 tên,  tiến theo ngã Quảng Tây vào Lạng Sơn, và Xương Giang ,
tỉnh Bắc Giang.  Cánh thứ hai gồm 50 000 tên, do Mộc Thạch chỉ huy , tiến theo ngã Vân
Nam vào Lào Cai, Việt Trì. Ngày  10- 10- 1427 , tiền quân Liễu Thăng  chủ quan khinh địch ,
rơi vào trận địa phục kích của Lê Sát ở cửa ải Chi Lăng, chủ tướng Liễu Thăng và tòan bộ
10 000 tên bị diệt dưới chân núi Mã Yên ( núi hình yên ngựa ), Chi Lăng.  Ngày 15- 10 ,
tướng Lương Minh  vừa thay thế Liễu Thăng, cùng hàng vạn quân, bị đạo quân Lê Lý tập
kích tiêu diệt ở Cần Trạm. Ngày 18-10, thêm 10 000 tên địch bỏ mạng  trong  phục binh  của
ta ở Phố Cát.  Ngày 3- 11, ta tổng công kích cụm quân  do Thôi Tụ - Hòang Phúc, hạ trại trú
đóng trên cánh đồng Xương Giang, vì ta  đã hạ thành Xương Giang, từ ngày 28-9-1427.  
Sau một ngày chiến đấu, ta đã bắt hơn 60 000 địch, tiêu diệt hòan tòan viện binh chủ yếu
của nhà Minh. Ở phía Tây,  nhận đươc tin thất bại của đạo quân Liễu Thăng, Mộc Thạch vội
vàng cho quân rút chay. Quân ta dưới sự chỉ huy của Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả  truy kích,
đánh  tan rả hòan tòan cánh quân này.  Vương Thông bị vây ở thành Đông Quan, phải đầu
hàng. Ta buộc nhà Minh phải chấp nhận rút các lực lượng còn lại về nước, thừa nhận nền
độc lập của chúng ta .

 
Thời Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp

 Theo sử liệu biên giới nước ta và Tàu ( nay là Trung Quốc )  từ đời Tiền Lê ( vua Lê Đại
Hành )  và nhất là từ đời vua Lý Thánh Tông  cho đến đầu thời Pháp thuộc, luôn luôn có
tranh  chấp ở đất liền cũng như mặt biển,  khi mối bang giao giữa hai nước không được tốt
đẹp, đặc biệt khi nội tình nước ta lũng cũng hay bị nội lọan,  như vào thời cuối đời vua Tự
Đức.  Cũng theo Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng ( 2000 ), có thuyết cho rằng nhờ Pháp
bảo hộ Bắc và Trung Kỳ,  
cho nên nước ta được lợi nhiều về đất đai ở miền biên giới; vô ý
thức làm lợi  cho thuyết Trung Quốc, nói rằng  lúc Thanh triều suy yếu phải nhưòng đất đai
biên giới Việt Hoa cho Việt Nam, dưới áp lực của thực dân Pháp
. Sự thật khác hẳn. Sau khi
Pháp đánh Bắc Kỳ và Hà Nội lần thứ nhất năm 1873,  chiếm Hà Nội lần thứ hai năm 1882,  
chiếm khu mỏ than Hòn( Hồng ) Gai năm 1883,  buộc triều đình Huế ký Hiệp ước  ngày 25
tháng 8 năm 1883 với Pháp, chấp nhận Nam Kỳ là thuộc địa  của Pháp và chấp nhận  bảo
hộ Pháp ở  Bắc Kỳ và Trung Kỳ . Ngày 6 tháng 6 năm 1884, còn buộc chấp nhận thêm là
nước Pháp sẽ thay mặt  nước An Nam trong mọi  quan hệ đối ngọai. Thừa dịp nước ta quá
suy yếu, giặc Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng người Trung Quốc,  đã tự do tàn phá vùng biên
giới, cũng như miền Thượng Du Bắc Kỳ. Các năm 1883- 84, triều đình Huế cầu viện nhà
Thanh  chống thực dân Pháp xâm lăng. Nhân dịp này quân ( Mãn ) Thanh đã lấn chiếm lại
vùng Tụ Long , và nhiều đất đai ở Bắc Kỳ. Mỏ đồng Tụ Long của ta thuộc vùng núi Tụ Long,
ở xã Tụ Long , tổng Phương Độ, châu Vị Xuyên , phủ Yên Bình trấn Tuyên Quang ( sau đổi
là huyện Vĩnh Tuy, tỉnh Hà Giang) ngay sát biên giới Trung Quốc.  Năm 1728, vua nhà
Thanh đã cho điều động bình mã ba tỉnh Trung Quốc  ( Quảng Đông, Quảng Tây và Vân
Nam ) đến biên giới  xem xét tình hình  động tỉnh, đặt mốc nhà Thanh chiếm vùng đất Tụ
Long nước ta . Nhưng thổ mục trấn Tuyên Quang  là Hoàng văn Phác nhất định không theo.
Sau đó chúa Trịnh Cương cho đem binh sĩ lên vùng biên giới , cương quyết  bảo vệ vùng
đất đã bị mất.  
Nhà Thanh phải chịu trả  lại vùng mỏ đồng Tụ Long lại cho nước ta vào năm
1728.
Trái lại thực dân Pháp, đã vì quyền lợi của Pháp, nhượng bộ Trung Quốc. Bộ trưởng
Pháp Constans,  ký kết Hòa Ước Thiên Tân ( Tien Tsin ) ngày 9-6- 1885, định rằng  uỷ viên
hai nước sẽ đến tại chỗ  xác định biên giới  Trung Quốc và Bắc Kỳ. Nhưng  kết quả là  Phụ
Ước  Pháp Trung, ký kết  ngày 26- 6 -1887, Pháp  thuận bỏ luôn một phần lảnh thổ ở biên
giới  tỉnh Vân Nam, sáp nhập  phần còn lại của
mỏ đồng Tụ Long  tại xã Phấn Vũ  ( còn gọi
là Mường Tung ) vào phủ Khai Hóa, tỉnh Vân Nam.
Thỏa Ước năm 1885  giữa Pháp và
Trung Quốc, Pháp  đã nhượng luôn các xã Tụ Mỹ, Tụ Hoa và một phần xã Phấn Vũ  
cho Trung Quốc. Diện tích phần đất nhượng này khỏang 750- 800 km 2 .
                

Ba lần Pháp thất thủ thành Lạng Sơn

  Như đã nói trên , quân Thanh “ cứu viện “ cho Việt Nam các năm 1883-84, đã chiếm thị xã
Lạng Sơn. Nhưng tháng giêng 1885, ở cuộc chiến Pháp -Trung, Pháp  chiếm  lại thị xã Lang
Sơn. Quân Thanh phản công các ngày 22/24 tháng 3 năm 1985 . Lữ đòan quân binh Pháp
đã hối hả rút lui khỏi đồn Lạng Sơn, sau khi thất bại tấn công Bằng Bồ (  Bằng Tường? ) ở
Trung Quốc, rút lui về Kép. “
Triệt thóai Lạng Sơn - Retreat from Lạng Sơn “  là một  lĩnh vực
tranh cải ở cuộc chiến Pháp - Trung  này, dẫn đến sự lật đổ nội các  Jules Ferry ở Pháp  
Đáng tiếc là lúc này triều đình Huế, chia ra hai phe chủ chiến và chủ hòa với Pháp không lợi
dụng được thời cơ Pháp thất thủ ( ? ) Lạng Sơn, quật khởi  chống lại  tóan quân tuớng tòan
quyền De Courcy , vô lễ và kiêu ngạo, đang cưỡng ép triều đình Huế, âm mưu thôn tính cả
nước Việt Nam, sau khi đã chiếm trọn Nam Kỳ. Không khác gì mấy  trước thời gian Minh Trị
Thiên Hòang dành lại được uy quyền chấp chánh ở Nhật của lảnh chúa Edo ( Đông Kinh )
Tokugawa ( Đông Kinh ), hai phe  Nhật chủ chiến chủ hòa với Tây Phương chém giết nhau
tơi bời.  Tuy nhiên, Tôn Thất Thuyết phụ chánh đại thần khi vua  Tự Đức mất, đứng đầu phe
chủ chiến, ra tay  trước. Đêm 4-7- 1985, quân Thuyết tấn công đánh úp doanh trại Pháp.
Việc tổ chức rất chu đáo, nhưng vũ khí thô sơ nên không thành công.. Tôn Thất Thuyết phải
đem vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, rồi về miền Hương Khê ( tỉnh Hà tĩnh ) phát động
phong trào Cần Vương chống Pháp. “Quan tướng “ Tôn thất Thuyết được nhân dân ca ngợi
qua câu :

        
Nước ta quan tướng anh hùng,
        Bá quan văn vỏ cũng không ai tày .

Chứ không phải bị phe chủ hoà, dèm pha  cho Thuyết là ngu si, ở câu châm biếm :

        
Nước ta có bốn "anh hùng",
Tường  gian, Viêm dối, Khiêm khùng, Thuyết ngu

( Tường là Nguyễn văn Tường cũng bị Pháp đày. Viêm là Hòang kế Viêm  cùng Lưu Vĩnh
Phúc đã được Tôn thất Thuyết giúp thắng trận Cầu Giấy, giết được đại úy Francis Garnier
năm 1873. Khiêm là Ông Ích Khiêm,  cũng chống thực dân Pháp. )  

Ngày 22 tháng chín năm 1940,  lực lượng quân thuộc địa Pháp lại phải hối hả một lần nữa,  
rút lui khỏi Lạng Sơn, trong trận gọi là “
Trận chiến Lạng Sơn - Battle of Lạng Sơn“, sau khi
bị sư đòan viễn chinh số 5 quân đội Nhật  từ Tàu tiến sang đánh bại.    

  Sau chiến tranh Mỹ -Nhật ở Thái Bình Dương quân đội thuộc đia Pháp trở lại  đóng đồn
vĩnh viễn ở Lạng Sơn, làm trung tâm hậu cần tiếp vận cho các đồn Pháp trú quân tại  biên
giới Việt Bắc.  Di tích  gọi  tên là chiến tranh
đường quốc lộ thuộc địa - route coloniale số 4,
cho biết  ngày 18 tháng chín 1950,  quân đội Võ Nguyên Giáp chiếm Đông Khê ( tỉnh Cao
Bằng ) bắt sống  đại úy Allioux , chỉ huy quân sự Đông Khê. Ngày 7 tháng 10 lại phá tan
tóan quân đại tá Charton , bắt sống Charton và tòan bộ tham mưu.  Chiều 8/10 phá tan tóan
quân, bắt sống đại tá  chỉ huy Le Page ở Na kao. Ngày 13/10 /1950, quân Võ Nguyên Giáp
chiếm Na Cham và ngày 19/10 chiếm Đồng Đăng. Đại tá Constans chỉ huy Lạng Sơn rời bỏ
thành này đêm 17 và rạng ngày 18/10, sau khi phá nổ cầu Kỳ Lừa, chấm dứt  chiếm giữ
Lạng Sơn,  khởi đầu kết thúc Pháp đô hộ Việt Nam đã gần 100 năm .

 
Trung Quốc tái tàn phá Việt Bắc, kể cả  vùng biên giới  Lạng Sơn

     Tháng 2 năm 1979 , Đặng tiểu Bình, Tổng bí thư đảng Cọng Sản  và chủ tịch Ủy Ban
Quân Sự Đảng Trung Quốc xua quân, khoảng 200 000( ? )  tương đương với số quân xâm
lăng thời Lý, thời Trần, thời Lê, của ba tỉnh Vân Nam , Quảng Tây, Quảng  Đông, tràn vào
lảnh thổ Việt Nam, phá họai hơn 20 thị xã và thị trấn quan trọng Việt Bắc, trong số này phải
kể  cả thị xã Lạng Sơn như đã nói trên. Chỉ rút lui, nói rằng đã dạy cho Việt Nam một bài
học, khi Việt Nam phản công,  chống đối mảnh liệt quân Trung Quốc cố tiến về Hà Nội mà
không được . Nhưng Trung Quốc bỏ mìn bảo vệ nhiều vùng đất đai ranh giới thuộc nước ta,
như Ải Nam Quan , Bản Giốc, vùng Tụ Long, vùng đất biên giới  các quận Hoành Mô, Hải
Ninh,  tỉnh Quảng Ninh v.v…  Trung Quốc tuyên bố đã giết chết 50 000 quân Việt, nhưng
Việt Nam nói là chỉ mất 37 000 quân và đã lọai ra khỏi vòng chiến hơn 26 000 địch.  Cuộc
chiến Việt Trung cận đại này  còn đang được  phê phán, đàm phán, hòa nghị …  cũng như
cuộc chiến nhỏ hơn ở biên giới hai  nước, năm 1989 ( ? ), tưởng chưa nên kết luận vội .  

  
Ngày 31/12/2008 phải hòan tất công cuộc cắm mốc biên cương hai nước

Sau hơn 10 năm, Trung Quốc đánh khốc liệt và đe dọa xâm chiếm Việt Nam ( 1978- 1989 ),
Hà Nội và Bắc Bình  mới gặp nhau ở miền  Nam Trung Quốc,  tháng 9 / 1990, đồng ý  tái lập
quan hệ  bình thường giữa hai nước. Tháng 10/1992,  hội nghị cấp  chuyên viên lần thứ
nhất họp thảo luận ranh giới  lảnh địa và vùng biển vịnh Bắc Bộ . Một năm sau , hai bên
thỏa thuận lập hai nhóm chuyên viên thảo luận riêng rẽ hai vấn đề này. Nhóm ranh giới lảnh
địa họp lần đầu tiên tháng 2/ 1994 và kết thúc sau 16 lần họp. Tháng 12/ 1999 , Việt Nam và
Trung Quốc ký thỏa hiệp nguyên tắc cắm mốc ranh giới lảnh địa. Tưởng cũng nên nhắc lại  
là lảnh địa biên giới hai nước dài 1400km ( 870 dặm Anh ) .Đến năm 2008, hai nước đã  đặt
xong 85 % mốc hai bên thỏa thuận. Riêng tỉnh Lạng Sơn đã hòan tất công cuộc đặt mốc.
Theo lệnh của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngày 31/12/2008 , các tỉnh khác cũng phải
hòan tất công cuộc cắm mốc. Không rỏ sau khi hoàn tất cắm mốc, chúng ta mất đi bao nhiêu
, nhận lại bao nhiêu lảnh thổ ?

Quan trọng  cho phát triễn Lạng Sơn là  thực hiện hành lang Kinh tế Việt Bắc hay  
hai Hành lang một Vòng tròn theo cách Trung Quốc hiểu .   
 
  
    Theo bình luận viên quốc phòng Úc, Carlyle A. Thayer ( tháng 11 năm 2008 ),  thật ra đối
với Trung Quốc  phát triễn hành lang này năm trong chính sách chung  cơ cấu đa quốc gia ,
đa phương. Liên hệ đến Việt Nam là  các cơ chế đa quốc: như
Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á - ASEAN
, Trung Quốc gia nhập năm 1994 và Việt Nam năm 1995;  như  Hội Thảo  
Vùng ASEAN Regional Forum -ARF
,  Việt Nam là thiết lập viên năm 1994;  và Vùng Phụ Mê
Kông Lớn Hơn - Greater Mekong Subregion- GMS
, do Ngân Hàng Phát Triễn Á Châu đề
nghị  năm 1992, mở rộng
Ủy Ban Mê Kông - Mekong River Commission - MRC, thành lập
năm 1995.

Tháng 10 / 2006, ở  phiên họp ASEAN  tại Nam Ninh - Nanning, thủ phủ Quảng Tây, thủ
tướng Ôn Gia Bảo( Wen Jia Bao),  kêu gọi  mở rộng thương thảo  quân sự, trao đổi và hợp
tác quốc phòng, chống khủng bố, viện trợ nhân đạo và cứu trợ tai ương, chống tội hình
xuyên quốc gia và chống bệnh lây nhiễn lan tràn. Mọi quốc gia ASEAN thỏa thuận lập một  
vùng ASEAN - Trung Quốc Tự do Thương mãi vào năm 2010, trừ các nước mới gia nhập là
Cam Bốt, Lào, Myanmar, Việt Nam , được gia hạn đến năm 1015. GMS gồm có Cam Bốt,
Lào, Myanmar, Thái Lan, Viêt Nam,  tỉnh Vân Nam  và khu tự trị  tộc dân
Tráng - Zhuang
Quảng Tây .  

Thọat tiên Trung Quốc rất dè dặt  về các hoạt động  đa quốc gia của ARF,  vì e ngại sẽ phải
bỏ bớt chủ quyền quốc gia Trung Quốc, nhưng năm 2006 lại đồng ý hợp tác an ninh trong
khuôn khổ ARF. Tại phiên họp thứ 14 của ARF, tại Manila - Phi Luật Tân,  bộ trưởng ngoai
giao Trung Quốc Yang Jiechi  cảnh cáo  hành động của các quốc gia như Hoa Kỳ và Nhật
Bổn, tố cáo hai quốc gia này muốn tái lập “ củng cố liên minh quân sự song phương “ và tìm
kiếm  “ưu thế quân sự tuyệt đối “.

Tuy Trung Quốc không chịu gia nhập  GMS, và MRC, chối từ nguyên tắc  xử lý nước sông
Mê Kông của MRC,  hòan thành một lô đập thủy điện ở thượng nguồn Mê kông ( tên Tàu là
Lang Cang Jian ) đã có ảnh hưởng tai hại đến hạ lưu, nhất là châu thổ sông Cửu Long,  
nhưng nhờ GMS thấm nhuần tư tưởng “ Phương cách ASEAN Way “ ( ? ) có nghĩa là quyết
định  không theo thủ tục qui định ở các thỏa hiệp- thỏa ước và tự nguyện ; cho nên các
quốc gia vẫn  thiết lập  được các chương trình hợp tác, không cần phải được sự chấp thuận
của mọi quốc gia . Chương trình GMS đã trải qua 4 giai đọan: xây dựng lòng tin cậy 1992-
1994, nhận định các khu vực ưu tiên 1994-96, tạo các dự án phát triễn 1996- 2000 và thực
hiện các dự án từ 2000 trở đi. Chính trong khuôn khổ GMS và ASEAN, Trung Quốc và Việt
Nam đã ký kết được Hành Lang Phát triễn Kinh tế ( Hai Hàng Lang, Một Vòng Tròn )

 Hai Hành Lang , Một Vòng tròn hiện có lợi nhiều hơn  cho hai tỉnh  Vân Nam, Quảng
Tây , vì công nghệ và nông nghiệp V. N. chưa cải tiến  đầy đủ

  Ngành giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn gồm có trên 2800km  đường ô tô, trong đó có  
465 km  đường quốc lộ với 6 tuyến là : 1A dài 154 km, đọan đi qua Lạng Sơn dài  70km, nối
liền thị xã Lạng Sơn với Hà Nội, chạy qua hai huyện Chi Lăng và Hửu Lũng; 1B dài 105km,  
nối Đồng Đăng và Thái Nguyên, chạy qua các huyện Văn Quan , Bình Gia , Bắc Sơn ; 4A
dài 66km nối liền Lạng Sơn với thị xã Cao Bằng, đi qua các huyện Văn Lãng, Tràng Định;  
4B dài 80 km , nối Lạng Sơn với Quảng Ninh đi qua các huyện Lộc Bình, Đình Lập; 31 dài 61
km , nối liền Đình Lập với Bắc Giang;  279 dài 55km nối liền Bình Gia với Thái Nguyên. Các
tuyến quốc lộ đều được trải nhựa. Ngoài ra, Lạng Sơn còn có mạng lưới giao thông nội tỉnh,
chiều dài trên 2300km, có thể đi tới  trung tâm 206 xã, 19 phường, thị trấn.
Nhưng chất
lượng đường xấu, chỉ có 20% chiều dài  có kết cấu mặt đường,  tính đến năm 2001 .

Tháng 11 năm 2004,  Trung Quốc tuyên bố  tăng tài trợ  nâng cấp đường sắt Côn Minh- Kunming , thủ phủ tỉnh Vân Nam nối với Hà Nội. Vân Nam là tỉnh không có bờ biển,  sẽ được nối  liền với vịnh Bắc Bộ, bằng đường sắt đến cảng Hải Phòng qua  Lào Cai và cửa khẩu biên giới Hà Khẩu phía Vân Nam. Tháng 11 năm 2005 , một  xa lộ nối liền  Nam Ninh và quốc lộ số 1A
Việt Nam , được khởi công. Năm 2007, Việt Nam và Trung Quốc thỏa thuận  xây dựng một vùng  hợp tác kinh tế xuyên biên cương từ thị trấn
Bằng Tường- Pin Xiang , Quảng Tây  đến tỉnh Lạng Sơn.  Tháng 3 năm 2008,  ký kết một Thỏa hiệp  Thông Hiểu - MOU gồm  Hành lang Nanning - Hà Nội và cửa khẩu Youyiguan - Hủu Nghị ,  dưới danh nghĩa Thỏa Uớc  Giao thông
Xuyên Biên Cương của GMS. Tháng 5 / 2008, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận   xây  cất xa lộ cao tốc  6 lằn,  từ Hà Nội qua Lạng Sơn,  nối liền với Quảng Tây Trung Quốc
.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     
  Đưòng sắt Việt Nam dài 2600km, nối liền các vùng cư dân  với các trung tâm văn hóa,
canh nông, công nghệ , ngọai trừ vùng châu thổ sông Cửu Long. Đường Sắt  Việt Nam nối
liền Trung Quốc và Việt Nam theo hai đọan: từ tỉnh Lào Cai đến tỉnh Vân Nam và từ tỉnh
Lạng Sơn đến tỉnh Quảng Tây .  Mạng đường sắt Việt Nam có thể trong tương lai nối liền với
các mạng đường sắt Cam Bốt, Thái Lan và Mã Lai Á .   

Tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Lạng Sơn lên đến cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng,
dài  163 km, 92 km nằm trong địa phận Lạng Sơn; có  11 nhà ga,  trong đó có 3 ga lớn là
Đồng Mỏ, Lạng Sơn, ga quốc tế Đồng Đăng. Tuyến Hà Nội - Đồng Đăng  sử dụng hai khổ  
1435mm  và 1000mm. Lạng Sơn còn có tuyến đường sắt nhánh Yên Trạch - Na Dương dài
50km , dùng  vận chuyễn than khai thác mỏ Na Dương .   

Kể từ khi tái lập quan hệ bình thường giữa Trung Quốc và Việt Nam, đặc biệt từ năm 2004,  
thương mãi Lạng Sơn và tỉnh Quảng Tây đã phát triễn mạnh mẽ . Theo quan thuế Việt Nam
, tính đến tháng 11 năm 2008 ,  hàng hóa nhập rồi tái xuất khẩu qua  Lạng Sơn  đạt 1.5 tỉ đô
la Mỹ, tăng 59.3 % so với năm 2007. Nhập khẩu vào  V . N. đạt 1.1 tỉ ( tăng 67.1% ). Mức
tăng này  chỉ chừng 28% một năm , ở khỏang thời gian các năm 1998- 2003. Chẳng hạn ,
cửa khẩu Tân Thành  mỗi ngày có chừng 250 - 500 xe vận tải và xe mô tô chở hàng hóa
sang Trung Quốc  và cả  trăm xe mô tô và xe vận tải chở hàng Trung Quốc đến thị xã Lạng
Sơn. Tân Thành chuyên về mặt hàng nông phẩm. Xuất khẩu là  trái thanh long ,  nhãn , vải ,
xòai và nhập khẩu là táo tây , lê , đào lông ( đào tiên ), cà rốt, khoai tây và nhiều lọai rau
hoa khác.Từ mồng 1 tháng giêng đến 30 tháng 11 năm 2008, ty quan thuế Lạng Sơn ước
lượng  đã cho nhập khẩu  gần 300 000 tấn hàng ( trên 1000 tấn một ngày ), nếu kể luôn cả  
hàng dân địa phương ở cửa khẩu có thể đem về Việt Nam, trị giá dưới 2 triệu đồng VN, khỏi  
phải trả thuế  theo thủ tục hiện hành. Đem lại công ăn việc làm cho hàng chục ngàn phu
khiên vác “ cửu vạn “ vùng biên giới .  Các chợ cửa khẩu như Cốc Nam ở huyện Văn Lãng,
các chợ Đông Kinh và Kỳ Lừa… đều chất đầy sản phẩm Trung Quốc: kim may, dày dép trẻ
em ,cuộn chỉ, áo quần, máy điện thọai , sản phẩm plastics (nhựa dẻo), thuốc đông y, và sản
phẩm điện tử… Đó là chưa kể một số hàng khác chuyễn lậu vào Việt Nam bằng đường mòn,
đường tắt để trốn thuế. Tình trạng khủng hỏang kinh tế hiện tại khiến các hàng Trung Quốc
sẽ đổ nhiều vào Lạng Sơn và Việt Nam hơn trước, vì chi phí  chuyên chở đến Việt Nam rất
rẽ, so với  phí tổn  chở sang Hoa Kỳ hay sang Hiệp hội Âu Châu. Hàng Trung Quốc thường
rẽ hơn hàng sản xuất ở Việt Nam. Tỉ như một bô quần áo Jeans đàn ông bán giá 80 000
VNĐ, trong khi giá bán của VN là 150 000 VNĐ ( đồng Việt Nam ) ,  đôi khi giá nói thách (
cho Việt Kiều hay ngọai quốc ) lên đến 400- 500 000 VNĐ. Một ti vi LCD ( tinh thể lỏng )  
đường kính  29- 32 ngón Anh ( inches ) bán giá 4.5- 5 triệu VNĐ .               
Tình trạng thắng lợi kinh tế của tỉnh Quảng Tây, trước đây được xem là một tỉnh đồi núi
nghèo nàn, công nghệ bán khai,  nhưng nay được  ngườii Hoa Đài Loan đầu tư nhiều, sẽ
còn tăng thêm  khi Trung Quốc hòan tất  
Đường cao tốc -Express Way dọc  bờ biển Vịnh
Bắc Bộ, đi từ bán đảo Leizhou, tỉnh Quảng Đông đến 4 thị trấn Quảng Tây,  Nanning, Beihai,
Quizhou và Fengchenyang., và nối với Hạ Long, Hải Phòng, trong khuôn khổ
Vùng Kinh tế  
Vịnh Bắc Bộ nới rộng - Pan Beibu Economic Zone
 ( Trung Quốc, Việt Nam, Mã Lai Á,
Inđônêxia, Brunei và Phi Luật Tân;
coi chừng đó là "diễn biến Hòa Bình" của Hồ Cẩm
Đào!
). Trung Quốc đã hòan tất đọan đường dài 1000 km từ DongXin đến Móng Cái, Qủang
Ninh. Tưởng cũng nên nhắc lại là năm 2007, lợi tức GDP mỗi đầu người ở Quảng Đông là
4481 dô la Mỹ, Quảng Tây là 1700 đô la và Việt Nam chỉ mới đến 835 đô la !

 Thô thiễn vài hướng phát triễn kinh tế Lạng Sơn ?

    Mọi phát triễn đều phải ưu tiên cải thiện hệ thống giao thông, điện, nước và viễn thông.  
Chúng ta đã nói qua về nâng cấp các quốc lộ, tỉnh lộ Lạng Sơn, đường vào làng bản ngoằn
ngoèo, chưa cán đá, trải nhựa. Nâng cấp đường sắt cho  mọi tuyến đều có khổ rộng 1435
mm  thay vì có khổ hẹp 1000mm, sửa lại cầu đường sắt  biệt lập không phải chung với
đường bộ, hầm, cống … đã xuống dốc nhiều,  điện hóa đường rầy và cải tiến hệ thống tín
hiệu, viễn thông còn quá củ  theo kỷ thuật Hung Gia Lợi từ các năm 1972 đển 1979; tuy
rằng từ năm 1998  đã sử dụng ti vi  băng vi tần ATM của Bưu Điện  truyền  nhiều kênh ở tốc
độ 64 kb một giây.  Xây dựng mau chóng các  xa lộ cao tốc dự liệu..

Không thể để Lạng Sơn và Cao Bằng ( ? ) tiếp tục mua điện từ Vân Nam, không khai thác
lượng nước dồi dào các sông ngòi Lạng Sơn. Đáng tiếc là thác nguồn Bản Giốc - Cao Bằng,
khu vực Đông Khê - Thất Khê, có thể thiết kế đập thủy điện lớn, đã bị Trung Quốc chiếm
đóng.  Nhưng có thể khẩn thiết làm các đập thủy điện vừa hay nhỏ ở Lạng Sơn như đã và
đang làm ở Cao Bằng…, được Ngân Hàng Phát triễn Á Châu ADB  tài trợ tháng 8 năm 2008
( ? ). Cố gắng cải thiên  sản xuất than sạch ở Na Dương, huyện Lộc Bình, không những với
than nâu nhiệt lượng cao hơn 4000 kcal/kg , hàm lượng lưu hùynh thấp hơn 5- 6 %, mà cả
các lọai than  khác mạch than vùng này, hầu chủ yếu dùng than đá làm điện sạch, theo kỷ
thuật mới mẽ  bớt phát thải, không ô nhiễm không khí như hiện nay ở Na Dương. Thay  vì
chỉ sử dụng phục vụ sản xuất xi măng địa phương, nhà máy xi măng quốc phòng X78 do
quân đội quản lý và nhà máy  Mai Pha - thị xã Lạng Sơn , kỷ thuật lỗi thời, hiệu năng thấp và
công xuất còn quá nhỏ.

Cận đại hóa ha tầng cơ sở giao thông, điện, nước sạch, viễn thông  nên gồm luôn cả  trùng
tu xây cất trường học, nhà thương,  kho hàng  chất chở,  tồn trữ  ở chợ búa, trung tâm
thương mai các thị trấn nhất là ở cửa khẩu, trang bị  phương tiện tân tiến những cứ điểm
kiểm dịch, kiểm phẩm, quan thuế, ngay cả các khu tiêu khiển  công cộng   như  khu tiêu
khiển Tân Thành đã có hảng đầu tư hổn hợp  thàng công làm
đĩa dày dặc -compact disc  
Star Joint Venture, như khu tiêu khiển  Hòang Đống…, tái thiết cơ sở lưu trú   dài, tốt hơn
hơn tại phương  cho du khách… . Theo chính sách chung, có lẽ nước nhà cần làm, hầu  
kích thích kinh tế,  kích cầu, có thể là
tài trợ  thâm thủng- deficit financing, vay tiền ngọai
quốc chi tiêu thiếu hụt - deficit spending
,  ít sợ lạm phát, tạo thêm công ăn việc làm, bổ
khuyết gia giảm suy sụp ngành xây cất nhà cửa, gia cư, mọi quốc gia đã phát triễn trên thế
giới đều  đề xướng, trong tình trạng suy thóai kinh tế tòan cầu . Hà tầng cơ sở  Lạng Sơn có
cải tiến thì ngành dịch vụ, du lịch mới có cơ tiến triễn mạnh thêm, tuy rằng hiện nay mỗi năm,
Lạng sơn đã đón 500 000 du khách, trong số này  trên 70 000 là du khách ngọai quốc,
nhưng đó chỉ mới là con số Hải Phòng đã đạt được từ năm 1995.

Trên phương diện nông nghiêp phải xét lại lý do gì  lúa cấy ở những huyện Hửu Lũng, Lộc
Bình, Tràng Định, Cao Lộc, Chi Lăng, hiện chỉ có năng xuất 4-4.5 tấn/ ha , không đạt được
mức trung bình 6- 7 tấn/ ha,  dù nay đã có
lúa lai - hybrid rice  đời F1 vùng lạnh , vùng cao,
tiềm năng 10- 13 tấn / ha. Không thể  để  Lạng Sơn nổi tiếng từ lâu  về
đào- peach Mẩu Sơn
phải tiếp tục nhập khẩu đào Vân Nam, Quảng Tây. Phải cố gắng tổ chức sạn xuất đại trà
hơn,  khuyến nông, bảo quản,  chuyễn biến các vùng đồi núi Lạng Sơn và các vùng cao Việt
Bắc, đặc biệt là Cao Bằng, không những xuất khẩu các lòai cây trái xứ mát, bán nhiệt đới
như đặc sản đào Mẩu Sơn , lê Thất Sơn , na Chi Lăng ( có lẽ nên thay na ta bằng
na lai -
atemoya
,  hay na tây cherimoya  tương tự mảng cầu xiêm bình bát chịu lạnh hơn ),  hồng ka
ki Bảo Lâm, Thạch Đạm ( tai sao không dùng những  giống mới Ca Li tuyễn chọn từ các
giống ka ki Nhật bổn ? ), qúit Bắc Sơn, mơ, mận tây Tam Hoa ( thị xã Cao Bằng trồng được
ở Lạng Sơn ), các lọai
hồng xiêm- sa pô chê mớii Mamây, hồng xiêm nhung , trái bơ -
avocado,
 các hạch quả ( hạnh nhân, dẽ hột Trùng Khánh và 6 xã Hạ Lang - Cao Bằng hay
dẽ lai mới ) ,  hồ đào ốc chó, mày châu Thanh Hóa , dẽ bi Úc châu hay Hạ uy Di,
mâm xôi -
raspberry
trồng giàn Chi Lê… Mục đích tối hậu là trao đổi thường xuyên hơn , nhiều hơn trái
cây đặc sản vùng cao Việt Bắc với cây trái xứ nóng vùng Đông Nam Bô hay vùng đồng bằng
sông Cửu Long hay các đồng bằng duyên hải miền Trung. Trong khuôn khổ này, tưởng  
cũng không nên quên ngành rau cải xứ mát và ngành hoa kiểng  trao đổi vùng cao vùng
thấp và xuất khẩu mùa đông đến các nước tiên tiến ( nay đã  phát triễn  khá ở vùng Đà Lạt -
Lâm Đồng và  ngọai ô Sài Gòn ) .  

 Về công nghệ, chiếu theo  hàng nhập khẩu từ Quảng Tây , Quảng Đông , Vân Nam, cần
xét lai tại sao nhiều lọai hàng Việt Nam lại còn qúa đắt, tuy giá nhân công V. N. không đắt
hơn, phí chuyên chở rẽ hơn và đã có cố gắng cập nhật kỷ thuật sản xuất từ khá lâu rồi . Lợi
dụng thời cơ  nhiều ngành công nghệ đang đến thời kỳ cần đổi mới, tái trang bị, sau 30 năm
sản xuất,  duyệt xét  lại mọi cơ sở , kỷ thuật, tổ chức sản xuất,  chế biến, giáo dục đào tạo
chuyên viên và huấn nghệ nhân công lành nghề tai Lạng Sơn, cũng như tại  đa giác phát
triễn công nghệ Hà Nội-  Hải Dương - Quảng Ninh -  Hải Phòng, đầu tàu lan  tràn từ Hà Nôi ,
Hải Dương đến Lạng Sơn . Đặc biệt cho Lạng Sơn là ngành khai thác mỏ ( than đá, kim lọai
đen, kim lọai màu ), công nghệ cơ khí nhỏ  máy móc nông cụ, vật liệu xây dựng ( xi măng,
các lọai đá, gạch  ngói ) , công nghệ điện tử, dệt may mặc , giày dép và công nghiệp chế
biến nông lâm sản (  giấy , tinh hồi dầu,  ruợu bia , thuốc lá thơm, thực phẩm gia súc từ bắp
- ngô , sắn - khoai mì  cao năng … )   

        (
Tháng hai năm 2009 tại Ca Li )