Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay

Đôi lời giới thiệu:

Ban biên tập Trang Web Hùng Sử Việt (www.hungsuviet.us) hân hạnh giới thiệu Tiến Sĩ
Trần Văn Đạt, một chuyên viên nông nghiệp về lúa gạo, đã từng giữ nhiều chức vụ quan
trọng tại Tổng Nha Nông Nghiệp và Bộ Canh Nông Việt Nam trước 1975.
Những bài biên khảo của Tiến Sĩ Trần Văn Đạt rất công phu, gồm đầy đủ phần liệt kê tài
liệu tham khảo, xét ra rất cần thiết cho những anh chị em trẻ trong nước cũng như tại Hải
Ngoại, muốn nghiên cứu và học hỏi về môn học Canh Nông.


NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ KHẢO CỔ HỌC VIỆT NAM

                                            Trần Văn Đạt, Ph. D.


1.
  Mở Đầu

Con người và các loài sinh vật khác gồm cả thảo mộc có mặt trên trái đất đã phải trải qua
hàng triệu năm trong quá trình tiến hóa thiên nhiên của vũ trụ. Cây lúa nguyên thủy cũng
xuất hiện lâu đời, từ một tổ tiên chung trên siêu lục địa nguyên thủy Gondwanalands
(1), có
những bước tiến hóa hàng triệu năm để trở thành cây lúa trồng hiện đại từ một loài cỏ dại.
Các thành tựu và hoạt động khảo cổ học trên đất nước Việt Nam trong hơn thế kỷ qua có
thể giúp chúng ta tìm hiểu phần nào các giai đoạn tiến hóa của ngành nông nghiệp bản xứ.

Ngành khảo cổ học hiện đại của nước ta bắt đầu phát triển trong thời Pháp thuộc từ thập
niên 1870, với áp dụng các phương pháp khoa học tiến bộ, chủ yếu đồng vị phóng xạ, đào
xới và kỹ thuật phân tích khoa học. Ngành này bắt đầu qua công tác sưu tập các di vật
ngoài trời ở Miền Nam, sau mở rộng đến Miền Bắc, Miền Trung và vùng Tây Nguyên. Một
Phái Bộ Khảo Cổ Đông Dương (Mission archéologique de l’Indochine) được Pháp thành
lập tại Sài Gòn vào năm 1898, sau đó trở thành Trường Viễn Đông Bác Cổ và di dời ra Hà
Nội năm 1901, với nhiệm vụ khám phá, bảo tồn các di sản khảo cổ và ngôn ngữ của các
nước Việt, Miên và Lào; ngoài ra, Trường còn nghiên cứu nền văn minh Ấn Độ và Nhựt
Bổn (EFEO, 2007). Công tác nghiên cứu khảo cổ trở nên lớn mạnh hơn khi thư viện và
viện bảo tàng được thành lập tại Hà Nội và Sài Gòn; từ đó công tác khảo cổ trải dài cả
nước, nhưng nhiều công trình nghiên cứu lớn được tập trung vào nhiều di chỉ khảo cổ ở
Miền Bắc so với các Miền khác.

Ngành khảo cổ học đã cung cấp rất nhiều thông tin quý báu cho khoa học nhân văn và lịch
sử. Tại Việt Nam, ngành khảo cổ học tiền sử được quan tâm nhiều hơn khảo cổ học lịch
sử, nhưng khuynh hướng này đã thay đổi từ thập niên 1990. Trong suốt thời kỳ Pháp
thuộc, ngành khảo cổ học không chú trọng nhiều đến nông nghiệp để tìm hiểu nguồn gốc
xuất hiện và tiến hóa của ngành này; do đó thông tin, dữ kiện, di vật thu lượm được còn rất
giới hạn để làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử của ngành, không kể đến các hủy hoại cố ý từ
các cuộc xâm lăng thô bạo của Bắc phương. Tuy nhiên, một số báo cáo liên quan đến
công cụ chế tác sản xuất, những di tích thực vật và động vật cổ, đặc biệt bào tử phấn hoa,
xương thú và đời sống cư dân của từng nền văn hóa đã giúp chúng ta có một số khái niệm
khá rõ nét về sự tiến hóa của nền nông nghiệp cổ ở Việt Nam.

Trong phạm vi bài viết này, thông tin về thành tựu khảo cổ học liên quan đến ngành nông
nghiệp cả nước được trình bày khái quát, phần chi tiết hơn sẽ được đề cập cho từng vùng
đất: Bắc, Trung và Nam trong những bài tham luận sau. Để có ý niệm thời gian rõ rệt trong
quá trình tiến hóa vạn vật, các giai đoạn sử học và khảo cổ học được sơ lược trình bày
trước khi bước vào tìm hiểu ngành nông nghiệp cổ qua khảo cổ học Việt Nam.

(1)  Gondwanaland là siêu lục địa cổ phía nam gồm có những lục địa ngày nay như: châu
Phi, Madagascar, Nam Mỹ, châu Úc, bán đảo Ấn Độ và Nam cực. Tên này lấy từ tên vùng
Gondwana hay là “đất của bộ tộc Gonds” thuộc tiểu bang Madhya Pradhesh ở phía bắc
trung tâm Ấn Độ.

2.   Các Giai Đoạn Sử Học và Khảo Cổ Học

Các nhà sử học thường phân chia lịch sử loài người làm hai thời kỳ chính: tiền sử và có sử.

Thời tiền sử gồm có 3 thời đại:

-        
Thời đại đồ đá cũ (hay đá đập): từ khoảng 1.600.000 đến 11.000 năm trước,
-        
Thời đại đồ đá mới (hay đá mài): từ khoảng 11.000 đến 5.000 năm trước,
-        
Thời đại kim khí (thời có sử): từ khoảng 5.000 năm trước.

Thời cổ  sử gồm có 4 thời đại:

-        
Thời thượng cổ: từ khi có chữ viết (5.000 năm trước) đến thế kỷ V sau Công Nguyên
(CN),
-        
Thời trung cổ: từ thế kỷ V đến thế kỷ XV sau CN,
-        
Thời cận đại: từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, và
-        
Thời hiện đại: từ thế kỷ XVIII đến ngày nay.

Theo khảo cổ học,
kỷ Thứ 4 còn gọi là kỷ Nhân sinh, là kỷ hình thành phát triển con
người và trái đất. Kỷ Thứ 4 có thể dài lâu độ 1,6 triệu năm hoặc hơn và được phân chia
làm 2 giai đoạn:
•        
Cánh Tân (Pleistocene) còn gọi là thời đại đá cũ thật dài, và
•        
Toàn Tân (Holocene) hay thời đại đá mới-kim loại thật ngắn, khoảng từ 10.000 năm
đến hiện nay.

Riêng thời kỳ Cánh Tân được phân ra là 3 giai đoạn: Cánh Tân sớm Q1, Cánh Tân giữa
Q2 và Cánh Tân muộn Q3. Kỷ Thứ Tư được tóm lược với niên đại ước định trong Bảng 1.

Bảng 1: Phân chia giai đoạn kỷ Thứ Tư


Kỷ                              Thế                           Dưới thế                     Niên đại tuyệt đối







KỶ THỨ TƯ            Nhân sinh                     Cánh Tân muộn               125.000 năn BP

                Cánh Tân (Pleistocene)
                (đá cũ: Palaeolithic)           Cánh Tân giữa                700.000 năm BP
              
                                                           Cánh Tân sớm                1.600.000 năm BP

KỶ THỨ BA        Tân sinh (Pliocene)                


Nguồn: Viện Khảo Cổ Học, 1998

Thời đại đá (cũ và mới) là thời kỳ dài nhứt của lịch sử loài người, chỉ chấm dứt cách nay
độ 6.000 năm. Theo các cuộc nghiên cứu cho biết vào thời đại đá
Người Vượn (Homo
erectus)
có nguồn gốc từ châu Phi, di cư tới châu Á cách nay độ một triệu năm (Ciochon,
1988). Người Vượn có thể xuất hiện trên đất nước Việt Nam cách nay độ 250.000 năm
hoặc sớm hơn, nhưng chưa có chứng cớ xác thực. Nhưng
Người Khôn Ngoan Sớm (Homo
sapien)
có thể hiện diện ở nước ta cách nay 70.000-60.000 năm và Người Khôn Ngoan
Muộn (Homo sapiens sapiens)
độ 30.000 năm, căn cứ vào một số di chỉ khảo cổ được tìm
thấy như răng, cốt người hóa thạch trong các hang động (Viện Khảo Cổ Học, 1998).

Ở Việt Nam,
thời đại sơ kỳ đá cũ đã được ghi nhận và khảo sát ở di chỉ khảo cổ Núi Đọ
thuộc Miền Bắc và Xuân Lộc ở Miền Nam (khoảng 300.000 năm cách ngày nay), mặc dù
các công cụ, vật liệu thu thập được trên mặt đất còn giới hạn và các phương pháp xác định
niên đại chưa có tính cách thuyết phục. Tiếp theo thời đại này, các nhà khảo cổ cũng “xác
định” được các giai đoạn thời hậu kỳ đá cũ, như sau:

•        Kỹ nghệ Ngườm (30.000-23.000 năm cách ngày nay).
•        Văn hóa Sơn Vi (18.000-11.000 năm cách ngày nay).

Một cách tổng thể, thời đại đá mới và kim khí gồm có các nền văn hóa chủ yếu như sau:

•        Văn hóa Hòa Bình (10.000-8.000 năm cách ngày nay)
•        Văn hóa Bắc Sơn (6.000-5.000 năm cách ngày nay)
•        Văn hóa Phùng Nguyên 4.000-3.500 năm cách ngày nay)
•        Văn Hóa Đồng Đậu (3.500 - 3.000 năm cách ngày nay)
•        Văn hóa Gò Mun (3.100-2.800 năm cách ngày nay)
•        Văn hóa Đông Sơn (2.800 - 1.800 năm cách ngày nay)

Các nền văn hóa sau này có thời gian ngắn hơn, do con người ngày càng tiến bộ nhanh
hơn.

3.   Di Vật Khảo Cổ

Qua các cuộc khai quật và thu lượm, các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều di vật liên quan
đến quá trình phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, chủ yếu các di tích động vật, đồ
đá, đồ đồng, đồ sắt, đồ gốm, bào tử, phấn và hạt thảo mộc. Tính chất và số lượng của các
di vật biểu hiện các đặc trưng khác nhau cho mỗi thời kỳ văn hóa nêu trên.

Động vật gồm các di tích xương, răng của loài động vật từ hoang dã chưa được thuần
hóa, như heo rừng, trâu, bò rừng… chỉ tìm thấy ở nền văn hóa Hòa Bình. Sau đó, cư dân
biết thuần dưỡng động vật trong nhà, nhờ tìm thấy xương, răng của trâu, bò, heo, chó
nuôi… trong di chỉ có nền văn hóa sau này từ nền văn hóa Phùng Nguyên. Nông dân có
thể biết dùng trâu cày ruộng ít nhứt trong thời đại Hùng Vương, độ 700 năm trước CN.
Trong nền văn hóa Hòa Bình, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy một số l
oài nhuyển thể, chủ
yếu là ốc núi, ốc suối, loài trai… Trong nền văn hóa Đa Bút (gần đồng thời với văn hóa Bắc
Sơn) ở ven biển Thanh Hóa, các nhà khai quật còn tìm thấy những loại sống ở biển như sò
gai, ngao, điệp, bên cạnh những đóng vỏ hến sống trong môi trường nước lợ được xác
định cách nay độ 6400 năm (Khảo Cổ Học, 1998). Nghề đánh cá sông, biển đã xuất hiện
lâu đời khi con người bắt đầu định cư ven sông rạch và biển cả.

Đồ đá gồm từ di tích công cụ đá cuội nguyên của nền văn hóa Hòa Bình cho đến công cụ
đá ghè đẽo, rìu đá mài lưỡi của nền văn hóa Bắc Sơn; đó là những dụng cụ đầu tiên dùng
trong ngành nông nghiệp sơ khai. Về sau, kỹ thuật làm đồ đá đạt trình độ cao hơn với rìu
và bôn hình tứ giác. Các bộ lạc nông nghiệp ở Đồng Nai dùng những chiếc cuốc đá mài
nhẳn có đuôi để làm đất, biết dùng các dao liềm hay dao hái bằng đá để gặt lúa, trước khi
biết dùng đến các nông cụ bằng kim loại.

Đồ đồng: Thời đại kim khí, trước hết đồ đồng, thau chỉ bắt đầu xuất hiện trong nền văn
hóa Phùng Nguyên, tạo điều kiện cho phát triển nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng sau này.
Công cụ sản xuất bằng đồng gồm có nhiều loại: rìu, lưỡi cày, cuốc, xẻng, thuổng hay mai,
lưỡi dao gặt… Ngoài ra, nhóm công cụ sản xuất còn có nhóm dùi, đục, dũa, lưỡi câu, kim,
đinh ba, đinh hai, móc, dao, dao khắc... Đa số các công cụ sản xuất này cho biết ngành
nông nghiệp đã tiến bộ nhiều trong thời đại Đông Sơn. Dĩ nhiên,
nền văn hóa Đông Sơn
nổi tiếng nhất qua phát hiện bộ nhạc khí trống và chuông đồng, với số lượng và hình dạng
rất phong phú.

Đồ sắt gồm có lưỡi cuốc, liềm, rìu, kiếm, giáo được tìm thấy trong nền văn hóa Đông Sơn
và về sau thay thế dần các dụng cụ bằng đồng. Nhờ các công cụ sắt, ngành nông nghiệp
phát triển và tiến bộ một tầng cao hơn, vì làm tăng hiệu năng sản xuất và năng suất vượt
bực. Một cuộc cách mạng xanh mới đã xảy ra trong ngành nông nghiệp với công cụ sản
xuất bằng kim loại so sánh với các dụng cụ chế tác bằng đá trước đó.

Đồ gốm chưa được tìm thấy trong tầng văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn qua các cuộc khai
quật. Tuy nhiên, trong nền văn hóa Đa Bút, đồ gốm gồm toàn loại đồ đựng thô, pha trộn
nhiều sạn sỏi to, đáy tròn không chân đế. Về sau đồ gốm trở nên tinh xảo và đẹp mắt hơn
với nét nghệ thuật chuyên nghiệp, phong phú hơn về chất liệu, họa hình và hoa văn trang
trí. Trên một số đồ gốm, các họa hình liên hệ ngành nồng nghiệp giúp các nhà khảo cổ học
đánh giá sự xuất hiện và tầm mức quan trọng sản xuất lúc bấy giờ.

Tóm lại, các di vật tìm thấy được trong các nền văn hóa khảo cổ học qua các cuộc khai
quật cho biết
ngành nông nghiệp sơ khai xuất hiện cuối nền văn hóa Hòa Bình và trong
nền văn hóa Bắc Sơn với các dụng cụ chế tác rìu, cuốc, xẻng... bằng đá được ghè đẽo thô
sơ tiến dần qua
thời đại kim khí đồng, thau và sắt; làm tăng hiệu năng sản xuất nông
nghiệp để đáp ứng nhu cầu dân số gia tăng. Một nền nông nghiệp khai thác hoàn toàn với
sức lao động con người đã tiến dần đến sự khai thác với sự giúp đỡ phần nào của
sức
kéo trâu bò và nông cụ
trong công việc cày bừa làm đất. Một nền nông nghiệp lệ thuộc
hoàn toàn vào thiên nhiên tiến dần đến khai thác
sản xuất chủ động do óc sáng tạo
con người
trong công tác làm đê đập, dẫn thủy nhập điền và bảo vệ mùa màng.

Ngoài yếu tố tác động con người nói trên, nền nông nghiệp hiện nay đã được hình thành
qua ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và hiện tượng biển tiến biển lùi với thời gian đi qua.

4.   Tình Trạng Biến Đổi Khí Hậu

Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến đời sống và phân bố các loài đông vật và
thực vật. Ngành khảo cổ học phải dựa vào bào tử, phấn hoa để hiểu biết các biến đổi khí
hậu và các loại quần thể thực vật trong thời cổ xưa vì các thảo mộc được cấu tạo phần lớn
bằng chất hữu cơ và nước nên dễ bị hủy hoại với thời gian nếu không bị hóa thạch sớm.
Các bào tử, phấn hoa nhờ có lớp mộc hoặc lớp nexine  với chất hóa học chống chịu các
phá hại từ môi trường bên ngoài, nên có thể tồn tại lâu năm trong các trầm tích. Cho nên,
để tìm hiểu quần thể thực vật, các nhà khảo cổ phải thu thập và phân tích các
bào tử
phấn hoa
trong các cuộc khai quật. Bào tử là tế bào sinh sản của ngành dương xỉ, còn
phấn hoa là các tế bào sinh sản đực của loài thực vật hạt trần và kín. Mỗi nhóm mỗi loài
bào tử phấn hoa có hình dạng, kích thước khác nhau, có thể phân tích, định loại qua kiến
hiển vi để biết thảo mộc tìm thấy thuộc loài và họ nào tồn tại trong thời kỳ nào của địa điểm
khảo cổ.

Ở Việt Nam, cuộc nghiên cứu bào tử phấn hoa được áp dụng khá phổ thông trong địa chất
học, nhưng trong ngành khảo cổ học còn ở giai đoạn sơ khai và mức độ chính xác trong
giám định mẫu còn thấp (Viện Khảo Cổ Học, 1998).

4.1.   Khí hậu thời đại đá cũ

Các cuộc nghiên cứu phân tích bào tử phấn hoa tại các địa điểm thời đại đá cũ ở Hang
Thẩm Khuyên (Lạng Sơn), Hang Con Moong (Thanh Hóa), các hang Hạ Sơn, Phiêng Tung,
Nà Khù (Thái Nguyên) đã được ghi nhận trong Phụ Bản, và đã có những quan sát đáng
lưu ý như sau (Nguyễn Đức Tùng và Hoàng Văn Dư, 1976 và Nguyễn Đức Tùng và Phạm
Văn Hải, 1979):

-   
“Các bào tử ngày càng tăng dần về số lượng và đa dạng.
-   Các phấn hoa của thực vật ôn đới ngày càng giảm dần (các giống thuộc họ      
Betulaceae, Pinaceae và Accraceae…).
-   Sự biến đổi các dạng bào tử phấn hoa khá đều đặn, không hoặc hiếm thấy những biến
đổi đột ngột.
-   Nhìn chung, toàn bộ các phức hệ đều được đặc trưng bởi những
dạng phấn hoa và
bào tử của thực vật cận nhiệt đới”.

Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra kết luận:

-   
“Khí hậu của vùng đồng bằng Bắc Bộ từ đầu Đệ Tứ tới nay đã biến đổi từ nóng hơi
khô đến nóng ẩm
.
-   Không có một phổ phấn nào phản ánh một thời gian băng giá (cho dù ngắn nhất). Do
vậy không thể có băng hà trong kỷ Đệ Tứ ở đồng bằng Bắc Bộ.
-   Sự biến đổi không đột ngột trong phức hệ bào tử phấn hoa cho ta thấy khó có thể chấp
nhận những đột biến về địa chất, địa lý với khí hậu kèm theo. Bởi vậy, biển tiến đột biến
trong kỷ Đệ Tứ như có người phát biểu khó có thể chấp nhận.”

Tuy nhiên, có thể có một thời kỳ lạnh khắc nghiệt đến nước ta và Đông Nam Á vào thời kỳ
cuối Cánh Tân, vì tìm thấy lớp dăm đá vôi Cryoclastic (cấu tử đá vôi do nhiệt độ lạnh hình
thành) trong mái đá Ngườm ở Thái Nguyên và các phấn hoa của các loài thảo mộc ưa lạnh
như
Carya (Juglandae), Carpinus (Betalaceae) ở lớp dưới cùng mái đá này (Hà Văn Tấn,
1984).

Tóm lại, kết quả nghiên cứu về bào tử phấn hoa trầm tích thời kỳ Cánh Tân và Toàn Tân
của đồng bằng Miền Bắc cho biết có
sự thay đổi nhiệt độ từ nóng khô đến nóng ẩm
xảy ra từ đầu kỷ Thứ 4 đến nay, không có trầm tích phấn hoa nào tiêu biểu cho một thời kỳ
băng giá và không có sự biến đổi khí hậu đột ngột ở nước ta. Ngoài ra, rừng và cây cối
vùng nhiệt đới ẩm phát triển nhiều hơn với thời gian, khi các bào tử của các loại cây này
ngày càng tăng dần về số lượng và đa dạng trong các địa tầng văn hóa khảo cổ. Do đó,
thảm thực vật và nền nông nghiệp của Miền Bắc thay đổi với thời gian lâu dài, từ những
loại thảo mộc thích hợp với khí hậu nóng khô đến các loài cây ưa nhiệt độ nóng ẩm, tùy
thuộc ảnh hưởng gián tiếp của thời kỳ băng giá hay băng tan xảy ra trên thế giới.

4.2.   Hiện tượng hâm nóng toàn cầu

Khí hậu của quả địa cầu rất năng động và luôn thay đổi, từ lạnh qua ấm rồi lạnh, ấm…
Hiện tượng hâm nóng toàn cầu đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử nhân loại. Cũng cần nhắc
lại rằng trong lịch sử thế giới đã có 4 thời kỳ băng hà, mà mỗi thời kỳ kéo dài độ 100.000
năm và giữa hai thời kỳ băng hà là thời kỳ hâm nóng kéo dài khoảng 15.000-20.000 năm.
Thời kỳ băng hà cuối vừa chấm dứt cách nay 18.000 năm (Monte Hieb and Harrison Hieb,
2006). Vậy thời kỳ hâm nóng gần đây nhứt đã bắt đầu cách nay 18.000 năm lúc băng hà
tan do ảnh hưởng tác động thiên nhiên.

Tuy nhiên,
trong hai thế kỷ qua với sự bành trướng của ngành công nghiệp, nạn đốt
cháy rừng, sự nuôi trồng, con người đã sản xuất và phóng thích nhiều thán khí (CO2) và
các chất khí thải nhà kính khác như methane (CH4), nitric oxide (N2O), ammonium (NH4)…
vào bầu khí quyển; gây ra hiện tượng hâm nóng toàn cầu tăng dần nhanh hơn và cường
độ lớn hơn. Nhiệt độ toàn cầu đã tăng lên 0,75oC trong thời gian từ 1860 đến 1990. Kể từ
1979, nhiệt độ trong bầu không khí đã tăng gấp đôi khoảng 0,12 - 0,22oC trong mỗi thập
niên. Chất CO2 và methane đã tăng 31% và 149%, theo thứ tự đối với thời kỳ tiền kỹ nghệ
từ 1750, cao hơn bất cứ thời gian nào trong 650.000 năm cuối cùng (Vikipedia, 2007). Hiện
nay nồng độ CO2 trong không khí là 380 ppm và Cơ Quan IPCC tiên đoán CO2 sẽ có thể
tăng đến giữa 541 và 970 ppm trong năm 2100. Nhiệt độ sẽ tăng lên 1,5oC trong vòng 50
năm tới và 3oC trong thế kỷ XXI; gây ra ảnh hưởng nhà kính trầm trọng hơn, nếu thế giới
không có các biện pháp ngăn chận hữu hiệu.

Một cách tổng quát, nhiệt độ tăng cao (1,5 - 2,5oC) sẽ ảnh hưởng đến nền nông nghiệp
toàn cầu về cả mặt tích cực và tiêu cực; nhưng ngành này sẽ bành trướng thuận lơi hơn về
hướng bắc của bắc bán cầu (IPCC, 2007):

-
Ở vùng ôn đới: năng suất sẽ tăng nhẹ, vụ Xuân bắt đầu sớm hơn, ít bị ảnh hưởng rét
lạnh nặng, nhưng vấn đề bảo vệ mùa màng khó khăn hơn hiện nay vì nhiều sâu bệnh, cỏ
dại xuất hiện.

-
Ở vùng nhiệt đới: Khí hậu nóng và khô hơn, làm giảm thời gian trồng trọt, làm giảm
năng suất hoa màu. Khí hậu bất thường.

- Tăng gia chu kỳ hạn hán và lũ lụt, làm hại mùa màng.

- Mực nước biển lên cao làm mất đi các vùng đầm lầy ven biển, các rừng ngập mặn và làm
ngập lụt các vùng thấp gần biển và sông ngòi.

Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu mô hình (modeling) về ảnh hưởng của hiện tượng hâm
nóng toàn cầu đối với nông nghiệp trong 50 hay 100 năm sắp tới, trong các điều kiện địa
phương. Tuy nhiên, dựa vào mô hình tiên đoán của IPCC nêu trên, Miền Bắc sẽ có thể ít bị
ảnh hưởng của khí hậu cận nhiệt đới và dần trở thành vùng có nhiều tính chất nhiệt đới
hơn hiện nay; trong khi Miền Nam sẽ nóng khô hơn và năng suất hoa màu sẽ bị sút giảm,
vùng ven biển đất thấp sẽ bị ngập lụt nhiều hơn, nếu không có các công trình nghiên cứu
và chương trình hành động thích ứng với thay đổi khí hậu hữu hiệu.

5.   Các Đợt Biển Tiến và Biển Lùi

Từ thời đại đá cũ đến thời đại đá mới đã có nhiều thời kỳ biển tiến và biển lùi xảy ra; ảnh
hưởng trực tiếp về mặt vật chất và sinh học của các loài thực vật và động vật trên trái đất.
Để tìm hiểu các đợt biển tiến và biển lùi, các nhà khảo cổ phải  chú ý các vấn đề sau đây
(Viện Khảo Cổ Học, 1998):

(i)        “Tìm hiểu cổ sinh vật trong các địa tầng như Forraminifera (trùng lỗ), Radiolaria
(trùng phóng xạ), Ostracoda (trùng hạt đậu), Echinodermata (nhiếm biển).
(ii)        Quan sát các dấu vết đường biển gồm những đê cát, ngấn nước biển để lại trên
vách đá, đất liền…
(iii)        Nghiên cứu các trầm tích biển có tính chất đặc biệt như độ tròn, độ nhẵn bóng, cấu
tạo lớp…
(iv)        Phân tích thành phần hóa học của đất: nồng độ muối, tỉ lệ các yếu tố Cl, Br, Ca, K,
Mg… hoặc sự có mặt của các khoáng chất Glauconic, Phosphoric.”

Hiện tượng mực nước biển tăng lên hay biển tiến do nhiều mưa trở về biển cả (băng tan
ở hai cực) và biển xuống hay
biển lùi do ít mưa hơn trở về biển (băng giá gia tăng). Ở vào
kỷ Thứ 3, có hiện tượng đóng băng và mực nước biển xuống thấp 80 m do nước bốc hơi từ
biển để đóng thành băng ở hai cực (Andrews, 1994 và Blanchon, 1995). Các nhà khảo cổ
tin tưởng rằng trong suốt kỷ Thứ 4 (độ 1,6 triệu năm cho đến nay), đã có nhiều lần biển
tiến và lùi, do khí hậu của toàn cầu thay đổi nhiều lần theo các chu kỳ nóng ẩm và khô
lạnh. Khi khí hậu nóng băng cực tan rả, mực nước biển dâng lên cao; khi khí hậu toàn cầu
trở nên lạnh, hai cực đóng băng và mực nước biển rút xuống. Vào thời hiện đại, ngoài sự
nóng ẩm thiên nhiên, còn có
sức nóng do con người tạo ra, còn gọi là sức hâm nóng
toàn cầu có thể làm cho nước biển tiến nhanh hơn trước kia, ảnh hưởng trực tiếp đến các
vùng đất ven biển thấp và các đảo ngoài khơi.

Vào
thời kỳ Cánh Tân, mực nước biển thay đổi không được biết rõ ràng, nhưng các
chuyên gia ước lượng thấp hơn mực nước biển ngày nay từ 100 đến 135 m vì đây là thời
kỳ đóng băng cao nhứt. Nhờ đó, người nguyên thủy của miền Nam và Bắc Mỹ có thể vượt
từ cánh đồng Siberia qua Alaska. Trong khi đó, người cổ xưa của vùng Đông Nam Á có thể
sinh tồn và di chuyển dễ dàng trong một vùng rộng lớn, từ Đông Dương đến Malaysia,
Java, Borneo của Indonesia và các đảo Thái Bình Dương.

Đến
thời kỳ Toàn Tân giữa, mực nước biển hiện nay đã đạt đến cách nay độ 4.000-5.000
năm (chấm dứt tan băng), mặc dù có độ biến thiên lên xuống khoảng 30 cm thường xảy ra
và các hiện tượng
biển tiến và lùi xảy ra nhanh hơn. Do đó, ở vịnh Hạ Long nay còn thấy
những đảo đá vôi ở giữa biển, nhưng trước kia là những dãy núi của lục địa nối dài ra
ngoài khơi. Mực nước biển vẫn còn tiếp tục tăng gia cho đến ngày nay, chỉ trong thế kỷ XX
mực nước biển đã lên cao từ 12 đến 30 cm (Andrews, 1994 và Blanchon, 1995).  
Ở Việt Nam, các cuộc nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX đến nay cho biết trong kỷ Thứ 4 nói
chung có 3 thời kỳ biển chính xảy ra: Lần 1: nửa đầu thời kỳ Cánh Tân giữa (khoảng
800.000 năm) với quy mô hạn chế. Lần 2 vào nửa sau Cánh Tân muộn (khoảng 100.000
năm) với quy mô lớn nhứt và lần 3 vào thời kỳ Toàn Tân giữa (khoảng 5.000 năm). Về mặt
hình thái, đồng bằng chỉ được xuất hiện vào cuối Cánh Tân muộn (Đặng Công Nga và Trần
Đức Thạnh, 1985). Nhưng trong mỗi thời kỳ nói trên
mực nước biển không luôn cố
định,
mà thay đổi lên xuống, và mức thấp nhứt không quá khỏi phạm vi đất liền hiện tại
(Bảng 4).

Những nghiên cứu gần đây về các trầm tích thuộc thời đại Cánh Tân giữa thu thập được từ
các lỗ khoan ở đồng bằng sông Hồng và Cửu Long cho thấy có sự hiện diện của các hóa
thạch thuộc nhóm trùng lỗ (
Foraminifera). Trong tập hợp hóa thạch này có 1-5% thuộc
dạng có đời sống trôi nổi, số còn lại thuộc dạng có đời sống tĩnh và ở mực nước sâu độ 30-
40 m; điều này cho biết rằng trong thời kỳ Cánh Tân giữa (khoảng 700.000 năm), đồng
bằng sông Hồng và Cửu Long bị chìm sâu dưới nước biển. Tiếp theo đó là đợt biển lùi đã
tạo ra hai đồng bằng này và nối liền với các đảo Thái Bình Dương và các nước Indonesia,
Philippines và Malaysia. Đợt biển tiến cuối cùng xảy ra trong thời Toàn Tân giữa.

Ở Việt Nam không có băng hà, nhưng chịu ảnh hưởng của các đợt biển tiến do các đợt
băng tan từ 2 cực. Ý kiến về biển tiến và biển lùi chưa được thống nhứt về thời gian. Theo
cuộc nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Việt Nam,
cách nay độ 18.000 năm, mực nước
biển ở độ sâu -100 m (so với hiện nay), còn cách xa tâm điểm của đảo Cát Bà lúc đó 50
km.
Khoảng 7.000-7.500 năm trước, đạt tới độ sâu -50 -60 m so với hiện nay. Đến độ
6.000-6.500 năm
, mực nước mới dâng cao, nhưng còn thấp hơn hiện nay -25 -30 m. Cửa
sông Hồng lùi ra tới đảo Bạch Long.
Khoảng 4.000-4.500 năm, mực nước đạt cực đại, cao
hơn hiện nay độ +5 m. Toàn bộ đồng bằng ven biển bị ngập nước.
Đến 2.500-3.000 năm
trước,
biển rút tới độ cao +2 m rồi dừng lại mức đó một thời gian (Bảng 2). Sau đó tiếp tục
biển lùi cho đến nay (
Lưu Tỳ và cộng sự, 1985).  

Bảng 2: Các đợt biển tiến và lùi từ cuối thời kỳ Cánh Tân đến nay


Niên đại địa chất


























Trong thế kỷ XX vừa qua
, mực nước biển tăng lên 25 cm và dự đoán tiếp tục gia tăng
từ 9 đến 88 cm hay 0,8 đến 8,0 cm mỗi thập niên trong năm 2.100, do hiệu ứng nhà kính
và hâm nóng toàn cầu (Barker et al., 2006). Theo CSIRO (2001), Tổ Chức Nghiên Cứu
Công Nghiệp và Khoa Học, Khối Thịnh Vượng Chung ở Úc, vào năm 2030, mực nước biển
Thái Bình Dương sẽ dâng lên thêm 16 cm và năm 2070 thêm đến 50 cm, nhiều đảo và các
vùng đồng bằng ven biển, ven sông lớn ở châu Á có thể bị chìm trong nước. Hiện nay, chỉ
dấu băng tan đã được báo động bởi nhiều nhà quan sát quốc tế.

Trong cuộc Hội Thảo bàn tròn tại Hà Nội ngày 2-5-2007, Ông Mark Lowcock, Bộ Phát Triển
Quốc Tế Anh Quốc đã cảnh báo Việt Nam có thể bị nguy cơ ảnh hưởng lớn do nhiệt độ
toàn cầu tăng kéo theo tăng mực nước biển. Theo dự đoán của các chuyên gia, vào năm
2010 nhiệt độ ở Việt Nam sẽ gia tăng từ 0,3 - 0,5oC và mực nước biển sẽ tăng thêm 9 cm,
năm 2050 mực nước biển tăng 33 cm, năm 2070 tăng 45 cm. Mực nước biển tăng thêm sẽ
gây ra ảnh hưởng tiêu cực: mất đất, nhiễm mặn, hạn hán, bão lụt, dịch bệnh…

Cũng theo nghiên cứu mô hình nêu trên, nếu mực nước biển tăng lên 1 m có thể làm mất
12,2% diện tích đất nơi 23% dân số sinh sống, tương đương với 17 triệu người. Nghĩa là
vào năm 2070, độ 8 triệu người Việt Nam có thể bị mất nơi sinh sống. Bão lũ thường xuyên
và nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đến nền nông nghiệp. Trên bờ biển dài 3.000 km, các
vùng duyên hải Bắc Phần và duyên hải đồng bằng sông Cửu Long, nhứt là Cà Mau sẽ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng, vì nhiều vùng đất của Cà Mau chỉ cao 0,5m trên mực nước biển.
Đồng bằng sông Cửu Long chỉ cao bình quân từ 0 - 4 m trên mực nước biển. Ở Hòn Dâu,
Miền Bắc, mực nước biển dâng cao độ 0,19 cm mỗi năm trong thời gian từ 1955 đến 1990
(
trong Trần Đăng Hồng, 2006).

Vậy, Việt Nam cần phải có những biện pháp theo dõi mực nước biển, chuẩn bị các biện
pháp cần thiết để bảo vệ đất đai và cư dân liên hệ, xây dựng hệ thống nông nghiệp thích
ứng với hiệu năng cao, và ngăn ngừa các chất thải vào bầu không khí.
Kinh nghiệm lịch
sử về hiện tượng suy thoái và cuối cùng bị tiêu diệt của nền văn hóa Óc Eo nước
Phù Nam vào thế kỷ VII sau CN
cho thấy tầm ảnh hưởng to lớn của mực nước biển dâng
cao đối với sự tồn tại của các đồng bằng trũng thấp gần biển.

Rất tiếc chưa có cuộc nghiên cứu sâu rộng về thời kỳ các đợt biển tiến và lùi ở đồng bằng
sông Cửu Long để hiểu rõ hơn sự phân bố, cấu tạo xã hội và đời sống của các cư dân
vùng này. Một số hòn đảo và hang động ở Hà Tiên đã ghi dấu tích rõ nét của các đợt biển
tiến và lùi trong hàng ngàn năm qua. Có hang động trên vách đá còn những mảnh vỏ sò
hến cách mặt nước độ 2 m. Từ xa trông vào, một số đảo có dấu ấn đậm nét các đợt biển
tiến và lùi, với các vết hằn sâu vào đá do sóng biển tác động liên tục qua nhiều thế kỷ.
Cũng vậy, các đường bờ biển cổ của Miền Trung khắc sâu chân núi còn tồn tại đến ngày
nay ở các độ cao khác nhau 40 m, 25 m, 15-10 m và 5-2 m. Dấu tích này là do dao động
của mực nước biển, gây ra bởi các thời kỳ đóng băng và tan băng của thời đại đá cũ hay
Cánh Tân (Thái Công Tụng, 2005).

Qua cuộc biển tiến cuối cùng, ngành nông nghiệp cổ, nhứt là nghề trồng lúa ở Việt Nam bị
chi phối rất nhiều với mực nước hiện hữu trong mỗi thời kỳ. Có thể nói
nền nông nghiệp sơ
cổ bắt đầu từ trên vùng đất cao, ven đồi núi với hình thức nương rẫy, tiến dần xuống đồng
bằng, thung lũng, đất thấp, ven biển, sông rạch mỗi khi mực nước biển thụt lùi
. Do đó, có
ngành trồng lúa khô (rẫy) xuất hiện trước khi có ngành trồng lúa nước phát triển ở Việt
Nam vào thời đại Hùng Vương-An Dương Vương và sau này.

6.   Kết Luận

Căn cứ vào sự thay đổi thành phần động vật, thực vật, bào tử, phấn hoa, di vật loại hình
công cụ đá, các di tích cổ sinh hóa thạch, các nhà khảo cổ học cho biết khung niên đại thời
đá cũ ở Việt Nam có thể kéo dài từ 500.000 đến 10.000 năm cách ngày nay. Người Vượn
có thể sống trên địa bàn Việt Nam cách nay vài trăm ngàn năm. Qua thời gian lâu dài này,
có nhiều cuộc biển tiến và lùi xảy ra trên thế giới. Hiện tượng này ảnh hưởng trực tiếp đến
nơi cư trú và cuộc sống của cư dân thời kỳ Toàn Tân. Nền nông nghiệp sơ khai xuất hiện
vào cuối nền văn hóa Hòa Bình cách nay độ 8.000 năm. Các bộ lạc trồng lúa xuất hiện
không những ở Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á, ở ven đồi núi, gò cao khoảng 5.000-
6.000 năm trước. Từ thế kỷ XX và bước vào thiên kỷ mới, thời đại công nghiệp thế giới phát
triển quá nhanh, gây ra ô nhiễm môi trường và làm tăng sức hâm nóng toàn cầu nhiều hơn
so với thế kỷ XIX. Các băng hà ở hai cực tiếp tục tan rả, làm cho mực nước biển dâng cao,
có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến các vùng sinh thái ven biển và vùng đất thấp cận biển
và sông ngòi. Hy vọng trong tương lai, các cuộc khảo cổ sẽ chú ý nhiều hơn đến sự tiến
hóa của ngành nông nghiệp cùng với phát triển sinh hoạt của các chủ nhân và phúc lợi xã
hội, qua các thay đổi của môi trường và khí hậu chi phối quá trình tồn tại và tiến bộ của họ.

Trần Văn Đạt, Ph. D.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1)        Andrews, J.T. 1994. Late quaternary meltwater and Heinrich events, Mortheast
Labrador sea. Quaternary Research, Vol. 41, No. 1, January 1994, p.26-34.
2)        Barker, J.D., C.L. Littnan and D.W. Johnston. 2006. Potential effects of sea level on
the terrestrial habitats of endangered and endemic megafauna in the Northwestern
Hawaiian Islands. ESR, 4:1-10, 2006 (www.int-res.com).
3)        Blanchon, P. 1995. Reef drowning during the last deglaciation: evidence for
catastrophic sea-level rise and ice sheet collapse. Geology, Vol. 23, No.1, January, 1995, p
4-8.
4)        Ciochon, R.L. 1988. Gigantopithecus the King of all apes. Animal Kingdom, Vol. 91,
No. 2.
5)        CSIRO. 2001. Living with climate change: An overview of potential climate change
impacts on Australia. CSIRO Climate Change Projections for Australia 2001 (www.
greenhouse.gov.au/impacts/overview/pubs/overview24.pdf).
6)        Đặng Công Nga và Trần Đức Thạnh. 1985. Địa tầng Đệ Tứ đồng bằng Thanh Hóa -
Vinh theo tài liệu nghiên cứu thạch học silic (diatomoeae). NPHM, Viện Khảo Cổ Học 1985.
7)        EFEO, 2007. École Française d'Extrême-Orient- History, Paris (http://www.iias.
nl/iiasn/iiasn2/general/ecole.txt).
8)        Hà Văn Tấn. 1984. Lớp dăm đá vôi ở Ngườm với khí hậu cuối Pleistocene ở Đông
Nam Á. NPHM, Viện Khảo Cổ Học 1984: 18-20.
9)        Hieb, M. and Hieb, H. 2006. Global Warming: A chilling perspective. www.mysite.
verizon.net/WVFossils/global_warming.html.
10)        IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change). 2007. Climate change 2007:
Climate change impacts, adaptation and vulnerability. Summary for Policymakers, 6-4-
2007, IPCC WGII Fourth Assessment Report, pp 23.
11)        Lưu Tỳ, Nguyễn Thế Tiếp, Nguyễn Tú Dân và Ngô Thị Hồng. 1985. Đặc điểm địa
mạo thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận. Khảo Cổ Học, sp 61 2-1985.
12)        Nguyễn Đức Tùng và Hoàng Văn Dư. 1976. Bào tử phấn hoa ở Nạm Tun và Thẩm
Khương. Khảo Cổ Học, số 17-1976.
13)        Nguyễn Đức Tùng và Phạm Văn Hải. 1979. Những phức hệ bào tử phấn hoa trong
trầm tích Đệ Tứ ở đồng bằng Bắc Bộ. Khảo Cổ Học, số 4-1979.
14)        Rodriguez, I., S. 2007. Correlations between the structure and function of pollen
grains of four species of Angiosperms. (http://www.science.smith.
edu/departments/SEM/pages/Ivelisse/sem.htm)
15)        Thái Công Tụng. 2005. Việt Nam: môi trường và con người. Vietnamologica,  
Trung Tâm Việt Nam Học, Montréal, Canada, 299 tr.
16)        Trần Đăng Hồng. 2006. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên nông nghiệp Việt
Nam: Phần 1. Hiện trạng và dự đoán tương lai. Nội San Hội Nông Nghiệp Việt Nam, Số
2/2006, Costa Mesa, California, tr. 66-77.
17)        Viện Khảo Cổ Học. 1998. Khảo cổ học Việt Nam, Tập I: Thời đại đá Việt Nam. NXB
Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 457 tr.
18)        Wikipedia. 2007. Acheuléen. (http://fr.wikipedia.org/wiki/Acheul%C3%A9en
19)        Wikipedia. 2007. Global Warming. (www.en.wikipedia.org/wiki/Global_warming).
Toàn Tân  (Holocene)
(đá mới: Neolithic, kim
loại và hiện đại)
10.000 năm BP
Biển tiến
(đường bờ ở độ sâu)
Biển lùi
(đường bờ ở độ sâu)
Cánh Tân-Toàn Tân
(18.000-12.000 năm BP)
(Băng hà tan)
-130 m đến -120 m
Toàn Tân sớm
(10.000-7.000 năm BP)
-60 m đến -50 m
Toàn Tân giữa
(6.500-6.000 năm BP)
-30 m đến -20 m
(5.000 năm BP)
0  (mực nước hiện nay)
(4.500-4.000 năm BP)
(Băng hà tan chấm dứt)   
+5 m đến +3 m        
(3.000-2.500 năm BP)
+2 m  
Hiện nay
0  (mực nước hiện nay)
Phụ Bản: Các phức hệ bào tử phấn hoa trong thời đại đá cũ Việt Nam
Dạng        
Nơi         lấy        mẫu
Thực vật
Bào Tử
Lycopodiun sp.
Selaginella sp.
Osmunda sp.
Lygodium sp.
Ameimia sp.
Gleichenia sp.
Hymenophyllum sp.
Dicksonia sp.
Pteris sp.
Microlopia sp.
Cyathea sp.
Polypodiaceae gen.
indet.
Polypodium sp.
Cystopteria sp.
Acroatichum sp.
Adiatum sp.
Angiopteris sp.
Ceratopteris sp.
Salvinia sp.
Phấn cây thân gỗ
Cycas sp.
Gingko sp.
Podocarpus sp.
Tsuga sp.
Taxodium sp.
Pinus sp.
Magnoliaceae gen.
indet.
Liquidambar sp.
Hamamelis sp.
Moraceae gen.
indet.
Morus sp.
Fagaceae gen.
indet.
Fagus sp.
Quercus sp.
Castanea sp.
Castanopsis sp.
Lithocarpus sp.
Butalaceae gen. indet.
Alnus sp.
Myrica sp.
Juglandaceae gen.
indet.
Julans sp.
Carya sp.
Engelhardtia sp.
Platycarys sp.
Pterocarya sp.
Sterculiaceae gen.
indet.
Salix sp.
Ericaceae gen.
indet.
Euphorbiaceae gen.
indet.
Symplocos sp.
Leguminoceae gen.
indet.
Lotus sp.
Rosaceae gen.
indet.
Myrtis sp.
Anacardiaceae gen.
indet.
Rhus sp.
Sapidaceae gen.
indet.
Cornus sp.
Araliaceae gen.
indet.
Aralia sp.
Ilex sp.
Rhammaceae gen.
indet.
Oleaceae gen.
Indet.
Meliaceae gen.
indet.
Melia sp.
Rubiaceae gen.
indet
Rutaceae gen.
indet.
Palmae gen. indet.
Sabal sp.
Phoenix sp.
Phấn cây thân thảo
Nymphaceae gen.
indet
Chenopodiaceae gen.
indet.
Labiatae gen.
indet.
Compositae gen. indet.
Poaceae gen. indet.
Liliaceae gen.
indet.
Poaceae gen. sp.
1


+
+
+
+
+
+
-
+
-
+
+
+

+
+
-
+
+
-
-

+
+
+
+
+
+
+

+
-
+

+
+

-
+
+
+
+
+
+
+
+

+
+
_
+
-
-

+
+

+

+
+

+
+

+
-

+
-

-
+

+
+
-

-

+

+
+

+
+
+



+
+




-
-
+

+
2


+
+
+
+
+
+
-
+
+
+
+
+

+
+
-
+
+
+
-

+
+
+
+
+
+
+

-
-
+

+
+

-
+
+
+
+
+
+
+
+

+
+
_
+
-
-

-
+

+

+
+

+
+

+
-

+
-

-
-

-
+
-

-

+

+
+

+

+
+
+


-

+

-
-
+
+
3


+

+
+
+
+
-
+
+
+
+
+

+
+

+
+
+


+
+


+
+
+

+
-
+

+
+

-
+
+
+
+
+

-
+

+
+
_
+
-


+


+


+

+
+

+


+
-


-

+
-




+

+
+

+

+








-
+
-
-
4







+


+

+
+

+












+
















+




































+
5











+

+




+




+
+



+
+









+


+


+



+





+



























+



+














+
6










+

+
+
7










+

+


+








+
Nguồn: Viện Khảo Cổ Học, 1998
Chú thích:   Dấu (+) có mặt, dấu (-) hiếm
1.        Phức hệ I đồng bằng Bắc Bộ (Q2)
2.        Phức hệ II đồng bằng Bắc Bộ (Q3)
3.        Thềm bậc II Lâm Thao, Tam Nông (Q3)
4.        Hang Thẩm Khuyên (Lạng Sơn)
5.        Mái đá Ngườm (Thái Nguyên)
6.        Hang Con Moong (Thanh Hóa)
7.        Mái đá Hạ Sơn (Thái Nguyên)
©2003 Hùng Sử Việt
T.S. Trần Văn Đạt là
cựu công chức Bộ
Canh Nông Việt Nam
Cộng Hòa từ 1967-74,
nghiên cứu sinh Đại
Học California, Davis
từ 1974-80; Chuyên gia
Cơ quan Phát Triển
Quốc Tế Hoa Kỳ,
USAID từ 1981-82;
Nguyên Chánh chuyên
gia và Thư ký điều
hành Ủy ban Lúa Gạo
Quốc Tế, Tổ chức
Lương Nông Liên Hiệp
Quốc, FAO, Rome, Italy
từ 1982-2004.