Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ KHẢO CỔ HỌC
MIỀN TRUNG VIỆT NAM

Trần Văn Đạt, Ph. D.


1.
  Mở Đầu
Về phương diện khảo cổ, Miền Trung bao gồm vùng duyên hải trải dài từ Thanh Hóa đến
Bình Thuận và vùng Tây Nguyên. Một vùng chỉ gồm nhiều núi đồi với các đồng bằng nhỏ
hẹp, có bờ biển dài ở phía đông và rừng núi hùng vĩ ở phía Tây. Miền này có nền văn minh
bị ảnh hưởng mạnh bởi các cuộc biển tiến, biển lùi và sự giao tiếp với bên ngoài ngay từ
thời cổ sơ. Huế là cố đô của Việt Nam hơn trăm năm, mà địa danh này đã ra đời khoảng
thế kỷ XV bao gồm cả vùng Thuận Hóa (Lê Văn Hảo, 1984). Các di chỉ khảo cổ tìm thấy
được tại Miền Trung thuộc thời đại đá mới giữa, như nền văn hóa Đa Bút và văn hóa
Quỳnh Văn tượng trưng cho các nền văn hóa trên vùng đất ven biển. Tiếp theo là thời đại
kim khí có liên quan mật thiết với nông nghiệp trồng lúa, bắt ốc và đánh cá ven biển. Đó là
giai đoạn hậu kỳ đá mới, đại diện bởi các nền văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên, văn hóa
biển Sa Huỳnh và văn hóa Chăm (hay Chàm và Champa).

Công tác khảo cổ Miền Trung bắt đầu hơi muộn hơn Miền Bắc và Miền Nam, nhứt là nền
văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên bị bỏ quên trong nhiều thập niên; tuy nhiên, các nhà khảo
cổ học đã xác nhận được một nền văn hóa đầu tiên của vùng này. Riêng văn hóa Sa
Huỳnh và văn hóa Chăm được các nhà khảo cổ ngoại quốc đặc biệt chú ý, trong khuôn
khổ của trường Viễn Đông Bác Cổ và Miền Nam trong thời kỳ Cộng Hòa. Do đó, trong thời
đại kim khí, ngành khảo cổ học có những thành tựu rất lớn trong lãnh vực xác nhận tầng
văn hóa, khu mộ táng vò chum, đồ sắt, đồ thủy tinh, đồ gốm của cư dân Sa Huỳnh; và các
kiến trúc, sưu tập các di vật, hiện vật phế thải, sưu tầm minh văn, khảo sát thành cổ, cảng
cổ… của dân tộc Chàm. Các cư dân trong các thời kỳ này rất năng động giao thương với
các dân tộc hải đảo như Philippines, Malaysia, Indonesia, Nhựt Bổn, Hồng Kông… và các
nước trong lục địa như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc…

2.   Nông Nghiệp Trong Thời Đại Đá Mới (Viện Khảo Cổ Học, 1998, 1999 và 2002)
Ở vùng ven biển, có hai nền văn hóa đáng chú ý xuất hiện trong thời đại đá mới giữa và
cuối, đó là văn hóa Đa Bút và Quỳnh Văn.

2.1.        Nền văn hóa Đa Bút (văn hóa ven biển: 6.000-5.000 năm cách ngày nay)
Sau thời kỳ văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn, biển tiếp tục lùi dần, các đồng bằng sông Hồng
và Cửu Long bắt đầu tái lập và các tập đoàn cư dân mở rộng tầm hoạt động xa hơn, di
chuyển từ đồi núi, vùng cao xuống đồng bằng và ven biển để sinh sống dễ dàng. Do đó,
vào thời đại đá mới có hàng loạt văn hóa ven biển xuất hiện, đáng kể hơn hết là văn hóa
Đa Bút phân bố ở Thanh Hóa và nền văn hóa Quỳnh Văn xuất hiện ở Nghệ An và Hà Tĩnh,
có niên đại từ 4.000 đến 3.000 năm trước CN.

Các di tích của nền văn hóa Đa Bút được học giả Pháp E. Patte tìm thấy ở địa điểm Đa Bút,
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa vào năm 1926-27. Cư dân sống trong môi trường gần
biển và cửa sông nên nguồn thức ăn chính là các ốc sò nước lợ chủ yếu là
loài hến, hay
nước biển như
sò gai, điệp, ngao. Ngoài ra, họ còn săn bắt ở các khu rừng xung quanh
mà di vật tìm được như xương răng thú rừng: hươu, nai, trâu, bò, lợn, nhím… Điều đáng
chú ý là một số nhà nghiên cứu đã nhận ra một số động vật được con người
nuôi dưỡng
như trâu và lợn
(Patte 1932 và Vũ Thế Long, 1979). Kỹ nghệ gốm cũng bắt đầu phát
triển với những di vật đồ đựng thô, chất liệu pha nhiều sạn sỏi to, đáy tròn, không chân đế.
Các di vật đồ đá tiến bộ hơn như cưa, đục, chì lưới, rìu mài. Rìu mài, chì lưới cho thấy kỹ
nghệ đá và trình độ của Đa Bút tiến bộ hơn văn hóa Bắc Sơn và những dụng cụ này được
dùng để sản xuất nông nghiệp và đánh cá.

Trong năm 1979, các nhà khảo cổ khai quật Cồn Cổ Ngựa thuộc xã Hà Lĩnh, huyện Hà
Trung, tỉnh Thanh Hóa (gần Đa Bút) và phân tích các mẫu
bào tử phấn hoa, đã dự đoán
rằng các cư dân ở đây đã biết trồng những
cây ăn quả và cây rau, củ (Nguyễn Địch Dỹ,
Đinh Văn Thuận và Trần Đạt, 1980), tuy nhiên còn trong
dạng sơ khai. Sự trồng trọt có
thể chưa nhiều để cung cấp đầy đủ thực phẩm cho người dân, mà nguồn thức ăn chính
yếu là sò hến, cá đánh bắt được từ sông ngòi và biển cả.

Tóm lại, các di vật thu lượm từ nền văn hóa Đa Bút như bào tử phấn hoa rau quả củ,
xương trâu lợn và đồ gốm sơ khai cho biết trình độ văn hóa của cư dân ven biển tiến bộ
khá nhiều so với cư dân lục địa, nhờ thường xuyên giao lưu với các dân tộc đảo biển và
quốc gia khác. Các bào tử phấn hoa được tìm thấy trong nền văn hóa này xác nhận một
nền nông nghiệp trồng trọt cổ sơ đã xuất hiện sớm hơn trên các vùng ven biển,
trong khi chưa tìm thấy di vật này trong nền văn hóa Hòa Bình-Bắc Sơn. Nền nông nghiệp
vượt xa hơn các vùng khác khi phát hiện cư dân ven biển biết thuần dưỡng gia súc sớm và
biết tạo ra các khu vườn cung cấp thêm thức ăn xung quanh nơi cư trú. Cũng vậy, đồ gốm
thô xuất hiện sớm hơn, biểu hiện đời sống văn hóa vùng ven biển phong phú vượt bực.

2.2.        Nền văn hóa Quỳnh Văn
Vấn đề niên đại của văn hóa Quỳnh Văn còn đang tranh cải, nói chung từ 6.000 đến 3.000
năm cách ngày nay (Nguyễn Văn Hảo, 1979, Bùi Vinh, 1982). Năm 1930, nhà khảo cổ học
Colani đã khai quật một số địa điểm cồn điệp ở gần ga Cầu Giát. Đến nay đã có 21 địa
điểm phát hiện thuộc văn hóa Quỳnh Văn, phân bố ở đồng bằng ven biển Nghệ An và Hà
Tỉnh, tập trung ở tỉnh Nghệ An.

Nền văn hóa này có rất
nhiều cồn điệp ở các bờ biển từ 1-7 km đường chim bay. Có 3
giả thuyết đặt ra cho các cồn điệp này:
(i)        Cồn hoàn toàn do người tạo nên,
(ii)        Cồn hình thành tự nhiên và  
(iii)        Cồn hình thành do thiên nhiên và con người.

Tầng văn hóa Quỳnh Văn chủ yếu là
vỏ điệp (Placura placenta, L), xen lẫn các loài sò gai,
sò nhẵn và một số ốc biển, xác cua. Ngoài ra, còn có xương cá, xương thú rừng, mai rùa,
mai mực, than tro, mùn cát. Người ta còn gặp xương thú rừng như tê giác, trâu rừng, bò
rừng, nai, hươu, voi… Trong nền văn hóa này, dân cư thuộc chủng tộc
Australoid và có
một số nét
Mongoloid, không thường sống liên tục ở các di tích cồn điệp, mà chỉ ở đó theo
mùa hay thời vụ, với nền kinh thế chủ yếu
hái lượm, săn bắt ở ven đồi núi và đánh bắt cá
nước biển, nước lợ
. Họ chưa có hoạt động liên quan đến trồng trọt, chăn nuôi (Viện Khảo
Cổ Học, 1998).

Trong nền văn hóa này, các đồ đá rất ít phát triển so với văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn và Đa
Bút, với công cụ đá mài, ghè đẽo không công phu, cuội tự nhiên; nhưng số lượng đồ gốm
tìm thấy khá nhiều. Điều này cho biết
văn hóa Quỳnh Văn chủ yếu có hoạt động kinh
tế khai thác vùng biển vùng vịnh và đồ gốm phát triển sớm ở vùng nước hơn là ở
vùng hang động.
Trong thống kê mới từ 10 địa điểm văn hóa Quỳnh Văn có 779 di vật,
trong đó (Nguyễn Trung Chiến, 1998):

-        Công cụ ghè đẽo có 253 tiêu bản (31,66%),
-        Công cụ mài có 3 tiêu bản (0,37%),
-        Nhóm công cụ không gia công (chày, hòn kê, hòn ghè, bàn nghiền, bàn mài) có 328
tiêu bản (41,05%) và
-        Mảnh tước có 225 tiêu bản (26,90%).

3.  Ngành Nông Nghiệp Trong Thời Đại Kim Khí
Trong thời đại này, các nhà khảo cổ đã xác nhận 3 nền văn hóa chủ yếu ở Miền Trung; đó
là văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm. Cư dân sống với
nghề nông nghiệp nương rẫy hoặc lúa nước và đánh bắt cá biển, bên cạnh hoạt động hái
lượm và săn bắt. Có sự tương quan gần giữa hai cư dân Sa Huỳnh và dân tộc Chăm, mà
nền tảng văn hóa của cư dân trước ra đời sớm hơn để chuẩn bị cho phát triển nền văn
hóa của dân tộc sau này. Riêng nền văn hóa Biển Hồ có bản sắc đặc biệt và có liên hệ với
các nước Đông Dương khác.

3.1.   Nền văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên (Viện Khảo Cổ Học, 1998)
Đây là
nền văn hóa hậu kỳ đá mới (độ 4.500-3.500 năm cách ngày nay) ở cao nguyên
Pleiku (cao độ 700-800 m) và Gia Rai và là nền văn hóa đầu tiên được xác định trên đất
Tây Nguyên. Văn hóa Biển Hồ (mang tên di tích hồ Biển Hồ) được khai quật lần đầu tiên
(1993) và cũng là tên của địa điểm Tơnuêng do Lafont phát hiện khá sớm (1956). Ông
Lafont là người đầu tiên sưu tầm di vật ở cao nguyên Pleiku. Từ cuối 1953 đến đầu 1954,
Ông đã thu thập được hơn 200 hiện vật đá kể cả rìu tứ giác, rìu có vai, mộ chum… và một
số đồ gốm tại 4 địa điểm: Ia Puch, Plei Del, Plei Plier và Tơnuêng. Cho đến nay, cao
nguyên Pleiku có 26 địa điểm khai quật, trong đó có 2 địa điểm đã khai quật là Biển Hồ và
Trà Dôm và 7 địa điểm đào thám sát. Với sự nghiên cứu một khối lượng lớn đồ đá và đồ
gốm thu thập được có đặc tính ổn định và đủ cơ sở cho việc xác định một nền văn hóa mới
gọi là
văn hóa Biển Hồ (Nguyễn Khắc Sử, 1995).

Tầng văn hóa này có bề dày trung bình 0,5-1,2 m cấu tạo từ đất đỏ badan và feralite,
thường chứa vết tích than tro, bếp, mộ và các di vật đá và gốm. Công cụ đá phổ biến chế
tạo từ nguyên liệu đá lửa (silic) (
rìu có vai và rìu tứ giác) và đá phtanites (bôn hình
“răng trâu”
) thường được đẽo, ghè cho sắc bén thuận tiện cho việc chặt cây, phá rừng,
làm đất
. Ngoài ra, còn sử dụng đá badan để làm đồ trang sức và đá cát kết làm các loại
bàn mài khá phổ biến. Ngoài ra, còn tìm thấy công cụ mảnh tước,
bàn mài chữ “V” và bàn
mài khối trụ có vết mài xung quanh, nhiều
bàn đập vỏ cây ở cao nguyên Tây Nguyên. Các
bàn đập này cũng được tìm thấy ở nền văn hóa Phùng Nguyên và lan rộng ra ở những
nước khác như Trung Quốc, Lào, Malaysia, Philippines, Indonesia, Polynesia và Trung Mỹ.

Đồ đá: Di tích Biển Hồ có 57 công cụ đá, gồm 29 rìu bôn có vai, 17 rìu bôn hình “răng trâu”,
6 phác vật rìu bôn, và 5 rìu bôn tứ giác. “
Đặc trưng nổi bật của rìu bôn có vai văn hoá Biển
Hồ là đa số làm từ đá lửa, kích thước nhỏ, mài toàn thân, đẽo lại lưỡi; đa số dáng vai xuôi, ít
vai vuông và vai nhọn, 2 vai không cân; 2 mặt thân phồng lên, vuốt mỏng dần về phía lưỡi
và 2 cạnh bên, 2 cạnh bên có vết mài phẳng tạo cho mặt cắt ngang hình thấu kính 2 rìa
thẳng
”. Những di vật đá được ghè dẽo nhọn bén, cho thấy nền nông nghiệp trên đất cao
hay nương rẫy đã bắt đầu xuất hiện, ngoài săn bắt, hái lượm và đánh cá đã có từ ngàn
xưa. Các cư dân
dùng lửa đốt rừng, dùng rìu để chặt cây, đốn rừng, dùng gậy nhọn đào lỗ
chôn hạt giống trồng cây, khi chín dùng tay hái lượm.
Nghề nương rẫy đã phát triển nhiều
trong giai đoạn này và còn hiện diện trong các khu rừng, đồi, triền núi ngày nay.

Trên Tây Nguyên, vào thời kỳ hậu đá mới,
các loại cuốc làm đất có kích thước lớn và có
hình dáng khác nhau đã xuất hiện, cho thấy nền nông nghiệp đã ra đời. Đáng chú ý, ở
Bình Sa, huyện Sa Thầy, Kon Tum, các nhà khảo cổ tìm thấy 5 viên
cụi dẹp, tròn, có lỗ ở
giữa, đường kính ngoài 10-12 cm, đường kính trong lỗ 3-4 cm, cân nặng 0,5-1,0 kg. Đây là
những viên đá dùng để gắn vào đầu cây chọc lỗ để gieo hạt trồng trọt trên đất khô.

Đồ gốm hiện diện trong di chỉ khảo cổ khá cao: 7 vạn mảnh trên 150 m2 khai quật. Tất cả
đều là gốm thô, đất sét pha cát, chế tạo bàn xoay và độ nung khá cao. Tây Nguyên có kỹ
thuật làm đồ gốm khá cao. Loại gốm mặt ngoài đỏ chiếm đa số: nồi cổ loe, bát miệng
thẳng, vò, ấm có vòi, viên bi, chì lưới… Hoa văn trang trí của gốm gồm có hoa văn chải mịn,
tiếp theo là văn khắc vạch, in chấm và có lỗ.

Vùng văn hóa Biển Hồ có độ giao lưu khá rộng rãi giữa Tây Nguyên với ven biển Trung
Việt, Lào và Campuchia. Tuy nhiên, ngoài những di tích của Kontum có quan hệ văn hóa
Biển Hồ với phổ biến rìu có vai, còn các di tích của Đắc Lắc và Lâm Đồng khác với Biển Hồ
vì có rìu tứ giác hình thang rất phổ biến. Vã lại, người Gia Rai cư trú ở cao nguyên Kon
Tum và nam Pleiku, còn người Rhadé chủ yếu chiếm cứ vùng cao nguyên Đắc Lắc và Lâm
Đồng, nhưng cả hai đều nói ngôn ngữ Malayo-Polynesian; chứng minh hai dân tộc thiểu số
này có cùng nguồn gốc xa xưa và về sau phân tán thành hai nhóm khác nhau. Người Gia
Rai
lấy săn bắt, hái lượm và đánh cá làm hoạt động kinh tế chính, đã biết tới nông nghiệp
nương rẫy, chủ yếu lúa rẫy du canh.

3.2.        Nền văn hóa Sa Huỳnh (ven biển Miền Trung: 3.000-2.000 năm cách ngày nay)
(Viện Khảo Cổ Học, 1999)
Nền văn hóa này đã biết đến khá sớm ở Việt Nam và Đông Nam Á do sự khai quật và báo
cáo của các nhà khảo cổ ngoại quốc như Vinet (1909), Parmentier (1924), Colani (1935),
Jansé (1941), Malleret (1959), Saurin (1966), Fontaine (1972), Fontaine và Hoàng Thị
Thân, (1975), và Solheim II, 1961)… và các nhà khảo cổ Miền Nam. Từ năm 1909 đến
1975, họ đã phát hiện nhiều
chum gốm với số lượng rất cao ở gần 20 địa điểm mộ táng.
Điều đáng chú ý là
công cụ sản xuất bằng sắt chiếm với số lượng cao, nhưng số công
cụ đồng thau lại rất ít. Nền văn hóa Sa Huỳnh xuất hiện vào
thời kỳ sơ sắt trong thế kỷ II tr
CN, có truyền thống giao thiệp với các nước lân cận như Philippines, Malaysia, Indonesia,
Thái Lan… Tại Philippines, ông W. C. Solheim II (1961, 1966 và 1967) đã nghiên cứu so
sánh gốm Sa Huỳnh và gốm ở Kalanay và tìm thấy có nhiều điểm tương đồng, nên ông đã
nêu ra thuyết “
truyền thống gốm Sa Huỳnh-Kalanay” ở Đông Nam Á, có khung niên đại đến
thiên niên kỷ II tr. CN.






















                      Hình 1: Di vật văn hóa Sa Huỳnh
1: Khuyên tai 2 đầu thú đá; 2: Khuyên tai 3 mấu thủy tinh; 3: Qua đồng; 4-6: Đồ sắt (4:
cuốc, 5: giáo (?), 6: liềm); 7:rìu đồng; 8: Chum mộ; 9-10: Bình và bát gốm.
(Viện Khảo Cổ Học, 1999)

Với tư liệu mới sau 1975, các nhà khảo cổ xác nhận có một giai đoạn văn hóa tiền Sa
Huỳnh thuộc thời đại đồng thau
được tìm thấy ở địa điểm Long Thạnh, Bình Châu
(Quảng Ngãi). Song song với hai địa điểm này, còn có giai đoạn văn hóa khác góp phần
tạo dựng văn hóa Sa Huỳnh thuộc thời đại sắt, đó là giai đoạn văn hóa Xóm Cồn (Quảng
Ngãi).

Giai đoạn Xóm Cồn: Cho đến nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy 8 địa điểm thuộc văn hóa
Xóm Cồn ở đồng bằng ven biển và đảo thuộc hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Trong tầng
văn hóa Xóm Cồn tích tụ dày đặc vỏ các nhuyễn thể biển và xen lẫn với các di cốt động
vật. Loại ốc mặt trăng (
Turbo sp.) và ốc tai tượng (Tridacna sp.) rất phổ biến, còn loài điệp
rất ít được tìm thấy ở di chỉ này. Rõ ràng cư dân chuyên sống với
nghề nông nghiệp
biển
chủ yếu.

Đồ đá gồm nhóm công cụ sản xuất như công cụ ghè đẽo và mảnh tước, rìu bôn, đục mài
toàn thân; công cụ khác như chày, hòn ghè, hòn kê, bàn mài; đồ trang sức gồm vòng tay,
hạt chuỗi bằng đá. Rìu bôn đá và những mảnh tước là những công cụ sản xuất của
nghề
nương rẫy.

Đồ xương và nhuyễn thể có số lượng đáng kể và đa dạng, gồm mũi dùi, mũi lao, làm bằng
sừng, còn đa số làm bằng nhuyễn thể như vòng trang sức và một số lõi vòng bằng vỏ ốc.
Các vật liệu bằng vỏ ốc này cũng được tìm thấy ở Nam Nhựt Bổn, Đông Đài Loan, Bắc
Philippines và Nam Thái Lan.

Đồ gốm tìm được cũng khá nhiều, phần lớn sử dụng đất sét pha cát biển, hạt cát tương đối
mịn. Hoa văn trang trí là văn khắc gạch, in chấm, dán thêm và tô màu. Niên đại của văn
hóa Xóm Cồn từ mẫu ốc lớp dưới cùng là 4140 ± 65 năm cách ngày nay và Bích Đầm lớp
dưới là 2935 ± 65 năm cách ngày nay. Văn hóa Xóm Cồn trải dài trong khoảng 3500-3000
năm cách ngày nay (Vũ Quốc Hiền, 1996).

Giai đoạn Long Thạnh: Đây là giai đoạn văn hóa sơ kỳ đồng của văn hóa Sa Huỳnh có
niên đại C14 là 1420 ± 40 tr. CN ở độ sâu 1,6 m và 925 ± 60 năm tr. CN ở độ sâu 0,6 m.
Trong di tích Long Thạnh có bộ
công cụ đa nổi bật là cuốc đá to bản, lưỡi hình vòng
cung, thân mỏng, không vai, thường gọi là cuốc hình “lưỡi mèo”. Cuốc làm bằng đá badan
màu xanh, dài 17-18 cm, chuôi rộng 7-8 cm, lưỡi rộng 11 cm. Ngoài ra còn có
rìu tứ giác,
rìu có vai kiểu “răng trâu”, nhiều bàn mài có lòng chảo, mũi khoan, chày nghiền,
hòn kê
. Các dao hái bằng đá, đục nhỏ, chày đập vỏ cây… cũng tìm được ở Ninh Thuận,
Bình Thuận, Quảng Nam, Đà Nẵng.
Các loại công cụ đá này cho biết nền nông nghiệp đã
đạt một bước tiến mới và xuất hiện trên khắp đồng bằng và ven đồi núi của Miền Trung có
niên đại cách nay khoảng 3.000-3.400 năm.

Gốm
có nhiều loại hình phong phú và đa dạng tùy từng vùng. Ở di tích Long Thạnh, gốm
được tìm thấy như bình, nồi bát, dọi xe chỉ, chì lưới… Các trang trí hoa văn đẹp và trang
nhã, thường tổng hợp các yếu tố khắc vạch, in răng sò, tô màu, văn thừng…
thể hiện sinh
động của biển cả
. Đặc điểm của nền văn hóa này là các chum hay vò lớn, có nắp đậy
hình bát được dùng làm quan tài. Mộ thường được chôn ở nơi cư trú từng nhóm 5-15 mộ
hoặc nhiều hơn. Vò mộ thường được chôn đứng và có nắp đậy.

Giai đoạn Bình Châu: Đây là giai đoạn đồng thau đang phát triển. Hiện nay nhóm di tích
Bình Châu được biết chủ yếu ở hai khu vực Quảng Ngãi và Quảng Nam-Đà Nẵng, ngoài ra
còn phát hiện lẻ tẻ ở khu vực Bình Thuận và Ninh Thuận. Trong tầng đất cư trú đã phát
hiện nhiều
công cụ sản xuất bằng đá như rìu đá đốc nhọn, thân hình tam giác, rìu
tứ giác, cuốc “lưỡi mèo”, dao, chày nghiền, bàn đập vỏ cây, bàn mài;
cho biết nghề
nông nghiệp nương rẫy
xuất hiện.

Gốm ở Bình Châu có phong cách ổn định, trang trí hoa văn độc đáo với hình con nhện,
hình giọt nước, đám mây, hình cây lúa… Phong cách trang trí này đã nói lên chủ đề nông
nghiệp trong kỹ nghệ làm đồ gốm, chứng minh cư dân trong nền văn hóa Bình Châu sống
chủ yếu với nghề nông. Ngoài ra, họ còn phát hiện nhiều mảnh đồ nấu đồng, công cụ bằng
đồng. Nhóm di tích Bình Châu có thể tồn tại từ khoảng cuối thiên kỷ II đến nửa đầu thiên kỷ
I tr. CN.

Nền văn hóa Sa Huỳnh không những phân bố dọc theo miền duyên hải miền Trung mà còn
bao gồm các vùng trung du và vùng núi Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định.
Đến nay, vẫn chưa có đầu mối về quan hệ giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Champa, vì
theo Thư tịch cổ Trung Quốc, nước Chàm chỉ thành lập cuối thế kỷ II sau CN. Nhưng có giã
thuyết cho rằng
văn hóa Champa nẩy sinh từ văn hóa Sa Huỳnh, người Chàm cổ là con
cháu người Sa Huỳnh cổ
. Cư dân Sa Huỳnh có thể là thành phần nhân chủng Indonesian,
với ngôn ngữ thuộc miền Malayo-Polynesian.

Ở Việt Nam, các chuyên gia đã khẳng định các
cư dân trong thời đại kim khí đã sống chủ
yếu với nghề nông nghiệp
, cho nên, cư dân Sa Huỳnh chắc đã sống với nghề trồng trọt,
nhứt là trồng lúa nước và lúa nương. Mặc dù đến nay chưa tìm thấy các di tích hạt lúa
nguyên, nhưng gốm Sa Huỳnh có pha trấu, gốm có hoa văn cây lúa, bông lúa được tìm
thấy ở gốm Bình Châu. Các công cụ sản xuất của văn hóa Sa Huỳnh gồm dụng cụ bằng
đồng như cuốc, thuổng, liềm, dao, rìu,
chứng tỏ nền nông nghiệp đã lớn mạnh và có
năng suất cao hơn thời kỳ đồ đá
. Cư dân sống gần những sông rạch, đầm nước ngọt
và vùng núi đồi, nghề đánh bắt cá cũng trở nên phổ biến. Ngoài ra, cư dân Sa Huỳnh còn
trồng các loại cây khác như khoai, sắn, đậu phụng…để có thêm lương thực và các loại cây
có sợi như bông, đai, gai để phục vụ nghề dệt.

Tóm lược, cư dân Sa Huỳnh có nền văn minh với sắc thái biển, liên hệ với các dân tộc
trong vùng. Ngành gốm Sa Huỳnh đã phát triển mạnh và có trình độ văn hóa khá tiến bộ.
Các chum gốm lớn, các bình vò có hoa văn rất đẹp, chứng tỏ người sản xuất có óc thẩm
mỹ rất cao. Họ cũng thông thạo chế tạo đồng thau để làm trang sức. Trong khu mộ táng
của nền văn hóa này đã phát hiện nhiều nồi nấu đồng, khuôn đúc, dỉ đồng và nhiều hiện
vật bằng đồng. Thật sự họ đã trải qua từ giai đoạn sơ kỳ đồng thau (di chỉ Xóm Cồn, Long
Thạnh và Bình Châu) để bước vào thời đại kim khí (văn hóa Sa Huỳnh xưa), với
nền nông
nghiệp biển, ruộng nước, rẫy nương khá tiến bộ.

3.3.        Nền văn hóa Chăm (192-1693 sau CN) (Viện Khảo Cổ Học, 1999)
3.3.1.        Lịch sử khảo cổ
Sau nhiều năm tranh đấu, dân tộc Khu Liên hay Chăm đã giành độc lập dựng nên một
quốc gia gọi là Lâm Ấp theo thư tịch Trung Hoa (Lim Yi) từ năm 192 sau CN với đô thành
Sư Tử Shimhapura và suy tàn vào năm 1693. Trong địa dư chí, Nguyễn Trãi ghi chép:
Chiêm Thành xưa là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam bộ Việt Thường của ta, sau
đổi làm Lâm Ấp. Bờ cõi nước ấy phía Nam thông với Chân Lạp gọi là Thỉ Bị, phía Tây gần
Qua Oa gọi là Thượng Nguyên, phía Bắc tiếp giáp với đất Hoan Châu gọi là Ô Lý, phía
Đông là giáp biển
.”

Công cuộc khảo cổ văn hóa Chăm thật sự chỉ bắt đầu khi người Pháp chiếm Việt Nam
hoàn toàn. Vào năm 1881, Ông A. Aymonier công bố minh văn Chăm và Khmer. Tiếp theo
sự phát hiện các kiến trúc ở Bình Định của C. Lemire, kiến trúc ở Thánh địa Mỹ Sơn và các
vùng phụ cận năm 1898. Tiếp theo là các cuộc khai quật các phế tháp. Sau năm 1954,
Miền Nam tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn nền văn hóa Chăm trong đó có lãnh vực lịch
sử, văn hóa, dân tộc học… do các học giả như Thái Văn Kiểm, Thiên Văn Cảnh, Trương
Bá Phát, Nguyễn Khắc Ngữ, v.v.
Trung Tâm Văn Hóa Chăm được thành lập ở Phan Rang
năm 1969 tiếp tục sưu tầm, xuất bản các công tác nghiên cứu về văn hóa Chăm (Viện
Khảo Cổ Học, 2002).

Sau năm 1975, các nhà khảo cổ tiếp tục nghiên cứu các lãnh vực kiến trúc đền tháp, tác
phẩm điêu khắc, minh văn, các hệ thống thành cổ Champa, thương cảng Champa, đồ gốm,
hệ thống thủy lợi cung cấp nước, di chỉ cư trú... trong các tỉnh: Quảng Nam, Bình Định,
Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Rai, Đắc Lắc… Trong các cuộc thám
sát điều tra, nhiều hiện vật được tìm thấy liên quan đến
quá trình đào đắp canh tác, làm
thủy lợi
… Cho biết nền nông nghiệp ở đây phát triển sớm do ảnh hưởng của văn hóa Ấn
Độ. Các phương tiện dẫn thủy khá phổ thông ở Miền Trung như xe đạp nước, bánh xe
nước trước kia có quá trình phát triển lâu đời (Đào Duy Anh, 1938):

-        
Xe đạp nước: Ở miền Trung, nông dân dùng xe đạp nước để tát nước vào ruộng. Ở
nơi thấp nhứt thì dùng một xe, ở ruộng cao thì chia làm nhiều bậc, mỗi bậc một xe.

-        
Bánh xe nước: Bánh xe này dùng sức mạnh của dòng sông để đem nước vào
ruộng. Người ta đắp đập ngang sông cho nước chảy mạnh rồi đặt bánh xe ở giữa dòng.
Xung quanh bánh xe có gắn những ống tre nhỏ để múc nước dưới sông rồi theo bánh xe
lên trên và đỗ nước và máng. Nước ở máng chảy vào mương và cuối cùng phân chia và
các ruộng. Các vật liệu làm bánh xe nước là những thổ sản như tre, gỗ dây chão. Vào mùa
lũ lụt, người ta tháo gở bánh xe nước để tránh bị hư hại.

Ngoài ra, công trình thủy lợi bằng đá badan xếp ở Do Linh, Quảng Trị được xây dựng
không rõ thời đại, nhưng theo bà M. Colani, nhà tiền sử học Đông Dương, có thể vào
những thế kỷ sau CN do chủ nhân gốc người Indonesia đồng thời với các vùng khác ở Nam
và Đông Nam Á Châu. Trong khi một số nhà khảo cổ học khác cho biết hệ thống thủy lợi
bậc thang này có thể xuất hiện vào thời cổ sơ (Tạ Chí Đại Trường, 1996).

3.3.2.        Những đặc trưng chính
Di tích văn hóa Chăm hiện diện ở khắp Miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận-Đồng
Nai và gồm các tỉnh Cao nguyên Trung Phần. Nền văn hóa Chăm trải dài trong 15 thế kỷ,
từ thế kỷ II (năm 192) sau CN cho đến cuối thế kỷ XVII (năm 1693). Người Chăm thuộc
chủng Nam Á, nói tiếng Malayo-Polynesian, hiện nay có dân số 93.510 người, đang sinh
sống ở Miền Trung, Miền Nam, tập trung đông nhứt ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa
và An Giang (độ 80.000 người). Họ tiếp nhận nền văn hóa Ấn  Độ khá nhanh ngay sau khi
giành được độc lập trong mọi lãnh vực, như tôn giáo (Ấn Độ giáo và Phật giáo) chữ viết,
phong tục, tư tưởng, tổ chức hành chánh và luật pháp. Những đặc điểm chính của nền văn
hóa Chàm gồm có:

Tháp Chăm: Trong suốt quá trình tồn tại, dân tộc Chăm đã xây dưng rất nhiều tháp, nhưng
hiện nay còn trên 70 tháp. Tháp Chăm là trung tâm hành lễ tôn giáo tại mỗi vùng, được xây
dựng nơi gò đồi cao riêng từng ngôi tháp như: Tháp Nhạn (Phú Yên), Cánh Tiên, Phú Lộc,
Bình Lâm (Bình Định), Pô Nagar (Khánh Hoà), hoặc một quần thể có tháp chính gọi là
Kalan và những tháp nhỏ phụ thuộc để phục vụ tháp chính.






























                      Hình 2: Đền thờ Mỹ Sơn (Quảng Nam)
                                    (Viện Khảo Cổ Học, 2002)

Thành cổ: Nhiều thành cổ Champa như: thành Thị Nại, An Thành, Chà Bàn (Bình Định),
thành Châu Sa (Quảng Ngãi), thành Trà Kiệu… có chức năng kinh tế và quân sự.

Cảng biển: Người Chăm thuở xưa rất giỏi về nghề biển. Hội An là một cảng chính của kinh
đô Shimhapura, Trà Kiệu. Ngoài ra, còn có cảng cổ Thị Nại, Bình Định, cảng cổ Phan Rang.

Gốm: Đồ gốm của dân tộc Chăm ít quan trọng hơn, nhưng gốm Bình Định cũng nổi tiếng
khắp xứ. Bộ sưu tập của cha xứ Anton ở nhà thờ Trà Kiệu khá phong phú, đủ loại chất liệu:
đồ gốm, đồ đá, đồ đồng, nhưng đặc biệt là đồ gốm: gạch và ngói, nồi, chậu, bình, vò, lọ…

Minh văn: Người Chăm nói tiếng Mã Lai-Đa Đảo và viết chữ Sanskrit của Ấn Độ. Họ cũng
sáng chế riêng chữ viết để ghi tiếng Chăm. Đến nay có 208 minh văn Champa cũ, nhưng
mới chỉ dịch và công bố 69 văn bản. Minh văn là các văn bản nói lên ý tưởng mong muốn,
được khắc trên các tượng bia, cột đền, trụ cửa, bệ thờ, vách núi… để ghi nhớ một sự kiện
gì đó của người Chăm.

Văn hóa Chăm là bước đường nối tiếp nền văn hóa Sa Huỳnh và kéo dài gần 15 thế kỷ,
chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn Độ cùng nhiều yếu tố của các nước láng giềng
và tạo nên một nền văn hóa có sắc thái dân tộc. Vì nước Chăm có một địa hình đặc biệt: kề
vách núi Trường Sơn phía tây, biển Đông phía đông, với các đồng bằng hạn hẹp bị xẻ cắt
bởi các đèo, sông rạch. Nghề nghiệp chủ yếu vẫn là
nông nghiệp trồng lúa và đánh bắt cá.
Thư tịch cổ Trung Hoa vào thế kỷ III viết về người Chàm: “
Mắt sâu, mũi cao, da đen, tóc
xoăn, biết làm ruộng hai mùa lúa, trồng dâu, nuôi tằm, trồng bông dệt vải đến nay 600
năm
” (từ đầu CN) (Viện Khảo Cổ Học, 1999). Ngoài ra, họ còn trồng các loại cây lương
thực khác như khoai, sắn, lạc, đậu…; cây lấy sợi như bông, đay, gai cho nghề dệt vải vì
việc canh tác rất thích hợp cho vùng đất phù sa cát.

Do ảnh hưởng sâu sắc của Ấn Độ có
nền nông nghiệp tưới tiêu tiến bộ, dân tộc Chăm
cũng noi gương và bắt chước làm nhiều công trình đào giếng lấy nước uống, đắp đập
ngăn nước làm thủy lợi, tưới nước trồng cây ngay cả vào mùa nắng để tăng gia sản xuất
đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước. Nổi tiếng hơn hết với
giống lúa Chiêm được dân
tộc Chăm du nhập từ Ấn Độ để trồng có lẽ trước CN. Giống lúa này không có quang cảm,
có thể trồng quanh năm với 2-3 vụ/năm, chịu đựng hạn hán tốt nên đóng góp lớn vào an
ninh lương thực của nước này.

Lúa Chiêm là lúa vô nghì
Cấy trước trổ trước không kỳ đợi ai.

Miền Bắc Việt Nam đã du nhập giống lúa này từ nước Chăm vào đầu Công Nguyên hoặc
sớm hơn để trồng vào vụ Đông Xuân, ngoài vụ lúa Mùa hay Hè Thu; cho nên Miền Bắc có
thể trồng 2 mùa lúa mỗi năm rất sớm.

Mạ Chiêm ba tháng không già
Mạ Mùa tháng rưởi ắt là không non.

Vào đời nhà Tống, Trung Quốc cũng du nhập giống lúa Champa này từ Việt Nam trồng ở
hạ lưu sông Dương Tử để giải quyết nạn đói kém vào đầu thế kỷ XI và giống lúa Chiêm đã
giúp nước này phát triển nền nông nghiệp thâm canh sớm để kịp thời đối phó nạn nhân
mãn đang bộc phát.  

4.    KếT LUậN
Công cuộc khảo cổ Miền Trung, ngoài di chỉ Đông Sơn thuộc Thanh Hóa trải dài khắp Miền
Bắc, còn phát hiện nền văn hóa ven biển vào thời đại đồ đá mới giữa, đó là nền văn hóa
Đa Bút và Quỳnh Văn. Ở đây, nền nông nghiệp đánh bắt cá ở các vùng ven biển và nông
nghiệp làm rẫy đã bắt đầu xuất hiện bên cạnh hoạt động chủ yếu hái lượm và săn bắt. Mặc
dù bị ảnh hưởng nặng của tác động biển tiến và biển lùi trong suốt thời kỳ tiến hóa dân
tộc, cư dân sơ cổ ven biển có đời sống văn hóa và nền nông nghiệp tương đối phát triển
hơn miền trung du lục địa, nhờ thường xuyên giao tiếp thương mại với các nước bên ngoài.
Những mảnh gốm thô, bào tử phấn hoa và vết tích xương động vật thuần dưỡng được tìm
thấy trong các cuộc khai quật đã xác nhận điều này.

Tiến đến thời đại kim loại, nền văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên xuất hiện với nền nông
nghiệp rẫy nương tiến bộ, dùng cuốc đá, rìu tay để xới đất, chặt cây, trồng trọt lúc ban sơ.
Nền văn hóa Sa Huỳnh bao trùm vùng đất Miền Trung với địa bàn hoạt động trên các đồng
bằng hạn hẹp, có đời sống phát triển mạnh kỹ nghệ sắt trong nông nghiệp dùng cuốc, kết
hợp với kiếm ăn bằng nghề đánh cá ven biển và thương mại. Nền văn hóa này còn được
xem là tiền văn hóa Chăm vì nguồn gốc dân tộc của hai nền văn hóa khá giống nhau.
Người Chăm có nền văn hóa rất phong phú chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, nhưng có bản sắc
riêng biệt, với các di tích lịch sử, tháp Chăm, thành cổ, hải cảng, gốm, minh văn…Họ rất nổi
tiếng về các hoạt động thủy lợi, cho nên ngành
nông nghiệp thâm canh khá tiến bộ,
hiệu năng sản xuất cao trên các cánh đồng nhỏ hẹp, đất đai kém phì nhiêu để đáp ứng
nhu cầu dân số đông đảo.

Trần Văn Đạt, Ph. D.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        Bùi Vinh. 1982. Cồn Cổ Ngựa (Thanh Hóa)- một bước ngoặt trong nhận thức về
văn hóa Đa Bút. Khảo Cổ Học, số 1-1982.
2.        
Colani, M. 1935. Le céramique de Sa Huynh. The 2nd Congress of Far-eastern
Prehistorians in Manlia.
3.       
 Đào Duy Anh. 1938. Việt Nam văn hóa sử cương. Nhà x/b Xuân Thu, Texas (tái bản
1976), 345 trang.
4.       
 Fountaine, H. 1972. Nouveau champ de jarres dans la province de Long Khanh,
Bulletin de la Société des Études Indochinoises (BSEI). t. XLVII, No. 3: 397-486.
5.        
Fontaine, H. và Hoàng Thị Thân, 1975. Nouvelles notes sur le champ de jarres
funèraires de Phu Hoa avec une remarque sur la crémation au Vietnam, BSEI, tome I, No.1,
Sai Gon, p. 7-50.
6.        
Jansé, O. 1941. Some notes on the Sa Huynh complex. AP, Vol. III.
7.        
Lafont, B.P. 1956. Note sur un site néolithique la province du Pleiku. Bulletin de l’
École Française d’Extrême - Orient (BEFEO), 48: 233-248.
8.        
Lê Văn Hảo. 1984. Sơ thảo lịch sử Huế. Bản đánh máy lưu tại Bảo Tàng thành phố
Huế.
9.        
Malleret, L. 1959. La civilization Dongsonien d’après les recherches de M.O. Janse.
FA. No. 160-161: 9-10.
10.       
 Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận và Trần Đạt, 1980. Phân tích bào tử phấn
hoa ở Cồn Cổ Ngựa (Thanh Hóa). Những phát hiện mới (NPHM), Viện Khảo Cổ Học 1980.
11.        
Nguyễn Khắc Sử. 1995. Văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên. Khảo Cổ Học, số 3,
1995: 7-16.
12.        
Nguyễn Trung Chiến. 1998. Văn hóa Quỳnh Văn. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
13.        
Nguyễn Văn Hảo. 1979. Khai quật di tích Gò Lạp Bắc (Nghệ Tĩnh) năm 1979. Tư
liệu Viện Khảo Cổ Học.
14.        
Parmentier, H. 1924. Dépôts de jarres à Sa Huynh (Quảng Ngãi – An Nam).
BEFEO, t. XXIV, No. 1-2, p. 325-343.
15.      
  Patte, E. 1932. Le Kjokkenmodding néolithique de Dabut et ses sépultures
(province de Thanh Hóa, Indochine). Bulletin du Service Géologique d’Indochine (BSGI),
vol. XIX, pt.3.
16.        
Saurin, E. 1966. Un site archéologique à Dau Giây (province de Long Khanh), sud
Vietnam), Việt Nam Khảo Cổ Tập San, số 4, Sài Gòn.
17.        
Solheim II, W.G. 1961. Introduction to Sa Huynh. Asian Perspectives Hồng Kông
AP, Vol. III, No. 2.
18.        
Solheim II, W.G. 1966. Further relationship of the Sa Huynh - Kalanay pottery
tradition. AP., Vol. VIII, No. 1.
19.        
Solheim II, W.G. 1967. The Sa Huynh - Kalanay pottery tradition: past and future
research, in Studies in Philippine Anthropology, p 151-174.
20.        
Tạ Chí Đại Trường. 1996. Những bài dã sử Việt. Nhà x/b Thành Văn, California,
Hoa Kỳ, 431 trang.
21.        
Viện khảo cổ học. 1998. Khảo cổ học Việt Nam, Tập I: Thời đại đá Việt Nam. NXB
Khoa học xã hội, Hà nội, 457 tr.
22.        
Viện Khảo Cổ Học. 1999. Khảo cổ học Việt Nam, Tập II: Thời đại kim khí Việt
Nam. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 551 tr.
23.        
Viện Khảo Cổ Học, 2002. Khảo cổ học Óc Eo. Khảo Cổ Học Việt Nam, Tập III,
NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, p 369-405.
24.      
  Vinet, M. 1909. Chronique. BEFEO, Tome IX, Hanoi.
25.        
Vũ Quốc Hiền, 1996. Công cụ và đồ trang sức bằng vỏ nhuyễn thể ở di chỉ Bích
Đầm (Khánh Hòa), trong NPHM, Viện Khảo Cổ Học, 1996, tr 90.
26.        
Vũ Thế Long. 1979. Di tích động vật ở di chỉ Đa Bút (Thanh Hóa). NPHM, Viện
Khảo Cổ Học 1979.