Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
Ngày Quân Lực và ngày Lễ Cha (Father’s Day)

Trên thế gian này, những giá trị tinh thần thường được tồn tại mãi mãi theo cùng với thời
gian, trong khi vật chất phù hoa chỉ hiện diện rất ngắn, sẽ tan biến trong khoảng không gian
nhỏ hẹp một thời.

Cũng vì thế, những đoàn nghĩa binh hay những tổ chức quân đội tham gia các cuộc chiến
chống ngoại xâm sẽ được ghi nhớ  đời đời vì giá trị đích thực là bảo vệ quê hương đất nước
và dân chúng. Ngược lại, những đoàn quân chiến thắng một thời, nhưng sau đó lại “hèn với
giặc, ác với dân” trước sau rồi cũng sẽ bị đào thải, hậu thế chẳng ai thèm nhắc nhở khi chế
độ tạo ra chúng không còn tồn tại nữa.

Đoàn nghĩa binh Lam Sơn hay đoàn quân bách chiến bách thắng Quang Trung sẽ đời đời
được nhắc nhở, ghi ân,  mặc dù nhửng binh đoàn đó không còn nữa…

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng không còn nữa Trang sử đẫm máu cũng đã tạm thời
khép lại để mở ra trang sử đấu tranh mới. Tuy nhiên, đoàn quân chính nghĩa vì Tổ Quốc và
Danh Dự, có Trách Nhiệm bảo vệ non sông, quần chúng sẽ sống mãi mãi với thời gian.  

Ngày Quân Lực 19 tháng 6 mỗi năm sẽ lại về cùng với ngày lễ kỷ niệm những người
cha
thân yêu, đã từng đổ mồ hôi gầy dựng gia đình, dạy dỗ con cái nên người và góp máu
xương ngoài chiến trường để bảo vệ quê hương cùng đời sống dân chúng hậu phương…




















                                               (Hình Sàigòn Times)


Những Pho Tượng Sống

Những anh hùng, danh nhơn
Được khắc thành tượng đá
Đề hậu sinh tưởng niệm, noi gương

Còn các anh
Những chiến sĩ can trường
Đã một thời đánh giặc
Bảo vệ  Tổ Quốc, biên cương

Bây giờ các anh đứng đó
Dẫu hao gầy, mái tóc pha sương
Nhưng sừng sững trước Tượng Đài Việt Mỹ
Dáng anh hùng - pho tượng sống - hiên ngang

Các anh thuộc Quân Đoàn Bộ Binh
Bốn vùng Chiến Thuật
Binh Chủng Nhẩy Dù, Biệt Động, Không quân
Hay các anh là
Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến
Pháo Binh, Biệt Kích, Thiết Giáp, Địa Phương Quân…

Rồi bóng nắng qua sân
Lời mẹ hiền ru, kể chuyện các anh:
“Ầu ơ….
Ngày xưa chiến sĩ Cộng Hoà.…
Xả thân đánh giặc…ờ…
Xả thân đánh giặc…. giữ nhà, giữ quê…! ”

Vương Sinh

Vài nét về  quân Lực Việt Nam Cộng Hò
a:  Quân Đội VNCH được thành lập năm 1949.
(Theo hiệp ước Elisée 8 tháng 3, 1949, QG VN được thàh lập, có quân đội, ngoại giao
riêng…Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam).
-
1950: Thủ tướng Trần Văn Hữu chính thức tuyên bố thành lập QĐ QGVN, quân số 60,000
người. (Thời Pháp thuộc, trong LHP có Bảo An Đoàn, Bảo Chính Đoàn). Trường Võ Bị Liên
Quân Đà Lạt chuyển từ Trường Sĩ Quan Huế - 1948 (ở Đạp Đá) – Sau đó thành Trường Võ
bị QG Đà Lạt (1959).
-
1953: Tổng động viên – 18 đến 33 tuổi.
-
1955:  TT Ngô Đình Diệm thành lập QĐVNCH, Bộ TTM, không còn lệ thuộc Pháp. Thành
lập Không quân. Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.
-
1956: TTM dời về Trại Trần Hưng Đạo - Lập Hải Quân Việt Nam.
-
1957: Lập QD 1,2. Lập Lực Lượng Đặc Biệt. Huấn luyện Hạ Sĩ Quan, Sĩ quan (Trường Sĩ
Quan, Hạ Sĩ Quan Đồng Đế).
-
1959: VNCH có 7 Sư đoản Bộ Binh
-
1960: thành lập BĐQ
-
1961: 11/11/60: Đ T Nguyễn Chánh Thi đảo chính.
- 1961: TT Ngô Đình Diệm chia 3 vùng CT  + Biệt Khu Thủ Đô
- Vùng I CT gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, do Quân Đoàn I trấn đóng
- Vùng II CT gồm Cao nguyên Trung phần và các tỉnh từ Bình Định vào Bình Thuận, do
Quân Đoàn II trấn đóng .
- Vùng III CT gồm các tỉnh từ Bình Tuy vào Nam do Quân Đoàn III trấn đóng. Biệt Khu Thủ
Đô gồm Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định.
-
1963: thành lập QĐ IV & vùng IV CT
•        Vùng I chiến thuật (Bắc Trung phần) với Quân đoàn I, gồm các sư đoàn 1 và 2 Bộ
binh.
•        Vùng II chiến thuật (Cao nguyên và nam Trung phần) với Quân đoàn II, gồm các sư
đoàn 22 và 23 Bộ binh
•        Vùng III chiến thuật (Đông Nam phần) với Quân đoàn III, gồm các sư đoàn 5 và 7 Bộ
binh.
•        Vùng IV chiến thuật (Tây Nam phần) với Quân đoàn IV, gồm các sư đoàn 9 và 21 Bộ
binh (Nguồn Internet)
1963: Đảo Chính. (chống TT Diệm)
- 1965: Hội Đồng Quân Lưc – 10 Sư Đoàn. toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm có
750.000 người, trong đó 229.000 là lực lượng chiến đấu nòng cốt để chống lại gần 1 triệu
quân giải phóng (trong đó hơn 500.000 đóng ở miền Nam bao gồm cả các lực lượng chính
quy và du kích), trong đó có hơn 200.000 bộ đội chính quy mà hơn 80.000 quân đã ở lại
miền Nam sau Hiệp định Paris.(nguồn Internet)
“ …
lịch sử của “Ngày Quân Lực 19 tháng 6”. Được biết sau cuộc đảo chánh lật đổ Tổng
Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Chính quyền và Quân Đội VNCH bị suy yếu trầm trọng vì
tình trạng chỉnh lý, tranh giành quyền lực giữa các tướng lãnh trong QLVNCH.

Lợi dụng tình thế bất ổn này, CS Bắc Việt xâm nhập ồ ạt vào miền Nam. Chính phủ dân sự
Phan khắc Sửu quyết định trao trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Hội
Đồng Quân Lực. Một buổi lễ ra mắt Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp
Trung Ương được long trọng tổ chức tại Saigon ngày 19 tháng 6, 1965. Hai Ủy Ban này đã
tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy QLVNCH trong việc bảo
vệ quê hương. Từ đó, ngày 19/6 trở thành một ngày lịch sử của Quân Lực VNCH; hằng năm
được trang trọng tổ chức để biểu dương sức mạnh và ý chí đoàn kết, quật khởi của toàn
dân Miền Nam, quyết chiến đấu chống CS xâm lược Miền Bắc.” (Trích: Tuyết Mai Virginia)

Lịch sử ngày Lễ Cha

Thuở Thượng Cổ  xa xưa, thế giới còn ở chế độ Mẫu Hệ và Mẫu Quyền vì bấy giờ  đứa con
chỉ biết c ó  mẹ. (Ngày nay còn một số sắc tộc ở VN , thí dụ người Chàm, vẫn  còn theo chế
độ Mẫu hệ: Con gái có quyền “Cưới chồng”, chỉ con gái mới được chia gia tài. Con gái út
được chia nhiều nhất vì phải nuôi bố mẹ già).

Khi loài người biết sống quây quần thành Bộ Lạc, bố mẹ ở với nhau, cùng lo cho con cái,
dần dần người cha làm chủ gia đình và loài người tiến sang chế độ Phụ Hệ (Nhưng phần
lớn người Mẹ vẫn còn có quyền như  quyền”nâng khăn sửa túi -  quyền Nội Tướng -  quyền
kinh tế … nhất là người phụ  nữ  Việt Nam):

“Lệnh ông không bằng cồng bà” (tục ngữ)

Khi theo chế độ phụ quyền, người cha được coi là nhất, có rất nhiều quyền hành: Vua,
Quan, Trưởng Tộc…thường là đàn ông.

Đạo Công gíáo, trên trời có Đức Chúa Cha,  Đức Giáo Hoàng là Đức Thánh Cha, Linh Mục
giảng đạo được gọi là Cha . Chữ Paster (Pastor) theo nghĩa chữ La Tinh là tạo hóa.
Đạo Phật cũng gọi Đức Phật Thích Ca Mâu Nì là đấng Từ Phụ (người cha hiền từ).

Vì cha rất nghiêm khắc đối với con cái, nên người Trung Hoa gọi là “Nghiêm Đường”.
Trong gia đình Việt Nam, cha là người quan trọng  hơn cả và ở địa vị cao nhất, ví như cái
nóc nhà:

“Con có cha như nhà có nóc”

Ở  Việt  Nam, tuy người cha có địa vị cao như thế, nhưng  vẫn luôn luôn mong con hơn
mình để xã hội được tiến hóa, khác với người Trung Hoa mong con sinh ra theo kịp bố (Hổ
phụ sanh hổ tử) , và người Pháp mong con cái bằng mình (Ton père, ton fils)

Ở Mỹ, ngày lễ Father’s Day   được tổ chức  đầu tiên vào 19 tháng 6  năm 1908 tại
Washington State trong một nhà thờ, nhân ngày tưởng niệm những người cha di dân từ Ý
đến, bị chết trong một tai nạn nổ hầm mỏ giết hại 361 người.

Bà Sonora Smart Dodd sinh tại Creston, Washington State, đã nghĩ đến người cha thân
yêu, một cựu chiến binh thời nội chiến (Civil War) sau ngày lễ Mother’s Day.
Ông W. J. Smart đã ở vậy nuôi sáu đứa con nên người. Bà Sonora tưởng niệm ngày cha
mất vào 5 tháng 6, nhưng vì thông báo trễ, nên ngày lễ được dời lại đến Chủ Nhật thứ 3
trong tháng 6. Như vậy, ngày lễ Father’s Day trong tháng 6 được tổ chức đầu tiên tại Mỹ
vào June 19, 1910 tại Spokane, WA. cách nay vừa đúng 100 năm.

Tổng thống Calvin Coolidge đề nghị Father’ Day là ngày nghỉ lễ quốc gia vào năm 1924, và
tổng thống Lyndon Johnson chọn ngày Chủ Nhật thứ 3 trong tháng 6 là ngày nghỉ lễ Father’
s Day. Tuy nhiên, mãi tới năm 1972,
thời tổng thống Richard Nixon, Father’s Day mới trở
thành ngày lễ chính thức của Hoa Kỳ.

Ngày Lễ Cha tại Việt Nam

Ngày nay cũng theo Mỹ kỷ niệm ngày Lễ Cha vào chủ nhật thứ 3 của tháng 6,  nhưng
không phải là ngày lễ chính thức (được nghỉ).

Ba ngày Tết Việt Nam bao gồm đầy đủ các ngày lễ trong năm của các nước Âu Mỹ ngày
nay, đó là Mồng Một Tết  dành cho Cha, Mồng Hai Tết  dành cho Mẹ, Mồng Ba Tết dành
cho Thầy..

“Mồng một ăn tết nhà cha
Mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy” (ca dao).

Tương tự ngày Lễ Mẹ, trong ngày Lễ Cha. hoa hồng đỏ dành cho ai còn cha và hoa hồng
trắng dành cho ai đã mất cha.

Những ngày Lễ Cha trên thế giới

Đức:
Tổ chức vào ngày lễ Thăng Thiên (Ascension). Đàn ông Đức chở cả xe bia về vùng
quê nhậu! Hoặc đến các Bar uống rượu. Con cái tặng quà cho cha.
Thụy Điển: Tổ chức vào ngày thứ 2 của tháng 11 .
Ý: Tổ chức vào 19 tháng 3 ( Festa Del Papa.) (Ngày Thánh Joseph) không phải là ngày
nghỉ.
Pháp: Fête des Pères (Giống  nước Mỹ). Áo : Papis, Nam Hàn : 8 tháng 5, Thái Lan: 5
tháng 12 (sinh nhật vua), Đài Loan : 8 tháng 8.

Theo đạo Nho :
1.         Đạo lý của cha (Tam cương, ngũ thường): tam là ba, cương là giềng mối. Tam
cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
1.        Quân thần: ("Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" nghĩa là: dù vua có bảo cấp
dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp
dưới không trung với vua)Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi
trung thành một dạ.
2.        Phụ tử: ("phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con
không chết thì con không có hiếu)")
3.        Phu phụ: ("phu xướng phụ tùy" nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo)
2.        Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường là năm điều phải hằng có
trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
1.        Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
2.        Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
3.        Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
4.        Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
5.        Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
Đạo lý của Mẹ (Tam tòng, tứ đức): tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ
nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
1-        Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
2-        Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
3-        Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con"
Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công
- dung - ngôn - hạnh.
1-        Công: khéo léo trong việc làm.
2-        Dung: hòa nhã trong sắc diện.
3-        Ngôn: dịu dàng trong lời nói
4-        Hạnh: nhu mì trong tính nết.

Tham khảo:
- Tài liệu trên Internet - Wikipedia