Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
Mẫu người lý tưởng của tuổi
trẻ Việt Nam tại hải ngoại

Mở đầu:
Mỗi dân tộc đều có một mẫu  người lý tưởng làm gương tốt cho các thế hệ tuổi trẻ noi theo.
Đó là những vị anh hùng, danh tướng bất khuất trong thời chiến hoặc những danh nhân
hào hiệp, đức độ thời bình: Việt Nam có “kẻ sĩ “, Trung Hoa có “quân tử”, Âu Châu có  “hiệp
sĩ “, Nhật Bản có “võ sĩ đạo” (Samurai)…

Như vậy, quốc gia nào cũng có những mẫu người lý tưởng được giới trẻ ngưỡng mộ noi
theo và thời nào cũng có những thần tượng khiến thanh thiếu niên, nam nữ đều thèm muốn
bắt chuớc…
Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng mẫu người lý tưởng  từ xưa đến nay và lựa chọn một
mẫu người thích hợp cho tuổi trẻ Việt Nam tại Hải Ngoại.ngày nay.

Mẫu người lý tưởng của Trung Hoa thời xưa: Quân tử

Quân tử là gì?  Quân tử theo Hán Việt Từ  Điển của Đào Duy Anh là người có tài đức xuất
chúng,  nhân cách hoàn toàn và phẩm hạnh ngay thẳng. Đây là mẫu người lý tưởng của
Trung Hoa thời xưa, theo cách nhìn của Nho giáo (Khổng giáo).

Theo nguyên nghĩa,
quân là vua,chủ đất nước, chủ gia đình (vợ gọi chồng là phu quân).
Như vậy,
quân tử chính là lớp ngưòi trí thức quý tộc, có khả năng cai trị xã hội. Đối nghịch
với quân tử là
tiểu nhân. Người quân tử làm  theo lẽ phải, không làm điều khuất tất, không
vụ lợi cá nhân. Người Quân tử có đủ “ngũ thường” (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) (1) trong đó
lòng nhân là quan trọng nhất. Người quân tử  nắm được mệnh trời và sống theo mệnh trời.
Thời nhà Chu, quân tử thuộc tầng lớp quý tộc và thời Xuân Thu gọi là
đại phu.  những
người làm quan đều được gọi là quân tử và dân thường hay cấp bậc kém hơn thường xưng
là tiểu nhân.

Người quân tử phải đạt được  
9 tiêu chuẩn về cách nhìn, cách nghe, sắc mặt, tướng mạo,
lời nói, hành động, tìm hiểu, kiềm chế và luôn nghĩ đến điều nghĩa
(2). Muốn trở thành người
quân tử, phải phấn đấu hành động đạt được
8 “nấc thang” như sau: Cách vật, trí tri, thành
ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
(3).

Chú thích:
(1) Nhân là loài người, là lòng nhân của người đối với người, người yêu thương người.
Thuyết nhân bản, lấy người làm gốc trong vũ trụ. Yêu thương người, có nghĩa là: điều gì
mình không muốn hoặc người khác không muốn thì đừng làm.  Điều gì người khác muốn, thì
giúp đỡ người ta. Mình muốn đứng vững, thành đạt thì giúp người khác cũng được như
mình.

Lễ  bao gồm việc thờ cúng, lễ bái thần thánh, trời Phật và tuân theo luật pháp, phong tục
tập quán kể cả kỷ luật tinh thần của cá nhân.

Nghĩa là làm những việc duy trì đạo lý và lẽ phải.

Trí  là trí thức để suy xét, hành động, nắm được mệnh trời.

Tín là làm đúng như lời đã nói, lời đã hứa hẹn: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (một lời
nói ra, 4 ngựa theo không kịp), “một sự bất tín, vạn sự chẳng tin” (tục ngữ), “lời nói chắc
như đinh đóng cột” (không thay đổi).
Trên đây là 5 đức tính của người quân tử.

(2) Mắt nhìn tinh anh, tai nghe tỏ tường, sắc mặt ôn hòa, tướng mạo khiêm cung, lời nói
trung thực, hành động cẩn trọng, làm sáng tỏ vấn đề nghi hoặc, tự chế, Có quyền lợi phải
nghĩ đến nghĩa (lộc bất tận hưởng).

(3) Cách vật: Tiếp xúc, nghiên cứu sự vật để nhận rõ thực chất, phải trái – Trí tri: Suy ngẫm,
hiểu thấu đáo điều mình đã nhận thức được – Thành ý: Luôn chân thật, không dối người,
dối mình – Chính tâm: Luôn suy nghĩ, hành động ngay thẳng, chính trực và làm chủ bản
thân – Tu thân: Luôn nghiêm khắc với bản thân, sửa chữa thiếu sót, không bảo thủ, nhận
rõ sai sót để hoàn thiện bản thân - Tề gia: Làm cho gia đình tốt đẹp, tề chỉnh, có nề nép gia
phong - Trị quốc: Lo toan việc nước, cai trị đất nước cho có kỷ cương, giữ phép nước - Bình
thiên hạ: khiến cho thiên hạ thái bình, lòng người quy thuận. (nguồn: Wikipedia)

Mẫu người lý tưởng của Châu Âu thời xưa: Hiệp Sĩ

Hiệp sĩ là gì? Theo định nghĩa, hiệp sĩ (tiếng Anh: knight, tiếng Anh cổ: cniht, tiếng Pháp:
chevalier, tiếng Tây Ban Nha: caballero) là người cưỡi ngựa gỉỏi, một kỵ sĩ, ban đầu chỉ giữ
địa vị thấp trong hàng quý tộc tại Âu Châu thời Trung cổ. Nhiệm vụ chính của hiệp sĩ  là
cưỡi ngựa chiến đấu hay ở trong đoàn thiết kỵ hạng nặng. Sau đó, tước hiệu “hiệp sĩ” được
vinh dự dành cho những người  nổi tiếng. Từ thê kỷ thứ 12, những hiệp sĩ cưỡi ngựa mang
giáp sắt được công nhận như 1 đẳng cấp mới và những nhà quý tộc giàu có cho con trai
gia nhập vào đẳng cấp hiệp sĩ và được vinh danh trong một buổi lễ tấn phong hiệp sĩ. Từ đó
những thanh niên con nhà giàu, quý tộc đều mong ước được trở thành hiệp sĩ với nhiệm vụ
cứu nhân phò thế, nhất là bảo vệ những người công giáo.

Muốn trở thành hiệp sĩ, một cậu bé 7 tuổi đã phải chuẩn bị để trải qua 3 giai đoạn học hỏi
và huấn luyện:
- Từ 7 tuổi, được gửi làm người hầu và học hỏi cách cư xử, phép lịch sự, sạch sẽ và tôn
giáo, học cách săn bắn, nuôi chim ưng, chuẩn bị ngựa, cưỡi ngựa, sử dụng áo giáp và vũ
khí từ những người hầu cho các lãnh chúa.
- Từ 14 tuổi, làm người hầu riêng cho những hiệp sĩ, chuẩn bị ngựa và binh khí cho chủ, tập
tính kiên nhẫn, rộng rãi và trung thành, theo chủ vào chiến trường, giúp đỡ chủ khi bị
thương và  học hỏi cách chiến đấu trên lưng ngựa cũng như những kỹ năng chiến đấu khác
của một hiệp sĩ.
- Từ 18 đến 21 tuổi, sau khi đã được huấn luyện hoàn chỉnh và tự trau dồi thêm kỹ năng và
đức độ, cậu thanh niên sẽ được trở thành hiệp sĩ sau một buổi lễ phong tước tại nhà thờ
bởi vua hay lãnh chúa. Đôi khi chàng thanh niên cũng được phong tước tại chiến trường
nếu tỏ ra can đảm. Chỉ cần lãnh chúa đặt gươm lên vai và nói: “Anh là Hiệp sĩ”, chàng kỵ mã
can đảm và nhiều kinh nghiệm chiến đấu kia đã trở thành hiệp sĩ.   

Hiệp sĩ được coi trọng ở thế kỷ 15 – 16, với những bộ áo giáp mạ vàng tượng trưng cho
hiệp sĩ ở đấu trường.  Cờ vua (Knight) ra đời ở thời kỳ này. Đến thế kỷ 17, hiệp sĩ có tước
hiệu riêng và tách khỏi đội lính kỵ do triều đình Anh quyết định. Một hiệp sĩ có quyền mang
thắt lưng trắng, quần vàng tượng trưng đẳng cấp quý tộc của mình. Tại Ireland có 3 dòng
họ hiệp sĩ có thừa kế. Trước đây, thời “thập tự chinh” có nhiều dòng hiệp sĩ – tu sĩ (thế kỷ
11-15). Sau cuộc thập tự chinh thất bại, các dòng hiệp sĩ phát triển mạnh vào thế kỷ 14-15.

Một hiệp sĩ phải lịch sự, sẵn sàng tha thứ, vui vẻ, nhẹ nhàng. Ngoài chiến trường, hiệp sĩ
phải dũng cảm trong chiến đấu, không được chạy trốn và trung thành với vua, với nước và
với Chúa. Hiệp sĩ thường hy sinh cho những lý tưởng tốt đẹp. Những hiệp sĩ hiện đại được
phong căn cứ vào cống hiến cho xã hội. Nam hiệp sĩ được gọi là “Sir” (ngài), nữ hiệp sĩ gọi
là “Dame” (quý bà)..

Mẫu người lý tưởng của Nhật bản thời xưa: Võ sĩ đạo Samurai

Võ sĩ đạo (Busido) là gì? Đó  là  những quy tắc đạo đức mà các võ  sĩ  Samurai thời trung cổ
ở  Nhật Bản phải tuân theo. Đây là tư tưởng của mẫu người lý tưởng mà các võ sĩ nói riêng,
binh sĩ Nhật nói chung từ thời trung cổ đến thời cận đại phải noi theo và tôn trọng: sự hy
sinh,  tín nghĩa, lễ nghi, liêm sỉ, chất phác, giản dị, tiết kiệm, thượng võ, danh dự, nhân ái…
Ngoài ra, theo tinh thần võ sĩ đạo, bề tôi phải trung với vua, hiếu với cha mẹ, nghiêm khắc
với bản thân, nhân từ với người dưới, khoan dung với địch, xa lánh dục vọng cá nhân, chính
trực công bằng, trọng danh dự hơn vật chất. Ngoài chiến trường, người võ sĩ đạo bao giờ
cũng biết chọn cái chết danh dự hơn là sống hèn nhát tủi hổ (đây là ảnh hưởng của Tống
nho được truyền vào nhật từ thế kỷ XVII).

Võ sĩ đạo hình thành từ thời kỳ Kamakura và hoàn chỉnh vào thời kỳ Edo (1603 – 1868 -
Wikipedia). Sau thời kỳ Minh Trị duy tân (Minh Trị Thiên Hoàng), võ sĩ đạo ở Nhật đã suy
giảm. Sau chiến tranh Trung Thanh, Võ Sĩ Đạo Nhật mới được nhắc lại.
Samurai là gì? Đó là những thị vệ, cận vệ, hầu cận (đầy tớ) của các vị quan,  là giai cấp
chiến binh có nhiệm vụ  bảo vệ đất đai và phục vụ chủ tướng.

Muốn trở thành Samurai, phải hội đủ 3 yếu tố: Trung thành, danh dự và can đảm, Để giữ
gìn được các yếu tố này, các samurai phải tập luyên và chuẩn bị chống lại kẻ thù. Họ phải
luyện tập cung kiếm từ nhỏ, thực hành trà đạo, thi ca, hội họa. Nhờ học hỏi, tập luyện, tinh
thần võ sĩ đạo thấm dần vào tư tưởng và hành động của samurai. Như vậy, samurai chính là
một võ sĩ mang tinh thần võ sĩ đạo, một thành viên của võ sĩ đạo.

Mẫu người lý tưởng của Việt Nam thời xưa: Kẻ Sĩ

Kẻ sĩ là ai? ”Kẻ sĩ là người có khả năng gánh vác công việc, thông hiểu mọi việc xưa nay, có
tài biện bác” (Từ Hải  - Từ điển Trung Hoa).
Kẻ sĩ bắt nguồn từ chữ “sĩ phu” của Trung Hoa theo đạo Khổng. Phu là người đàn ông đã
thành nhân. Sĩ phu theo nghĩa khởi thủy là người đàn ông. Đối với Việt Nam,  kẻ sĩ  là người
có học thức.

“Kẻ sĩ phải có chí khí rộng rãi và cương nghị... Đã làm điều phải thì phải làm cho đến chết
mới thôi, con đường như vậy không phải là xa sao?” (Luận Ngữ, nguồn: VanMau.com).
Trong xã hội Việt Nam, kẻ sĩ hoặc thuộc giới quan quyền giúp vua cai trị dân với  5 tước
(công hầu bá tử Nam) do vua ban cho,  hoặc thuộc giới dân giả (Có 4 giai cấp trong Xã Hội
Việt Nam xưa, sĩ đứng đầu: Sĩ, Nông  Công, Thương). Bài hát nói của Nguyễn Công Trứ  
(thế kỷ 19): “Tước hữu ngũ, sĩ cư  kỳ liệt. Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên”
Trách nhiệm và dấn thân là hai đức tính khiến kẻ sĩ phải tự rèn luyện, tu học để có kiến thức
và đức hạnh hầu ra ngoài xã hội giúp đời. Sự nghiệp, công danh là bước tiến tiếp theo.

Như vậy, kẻ sĩ Việt Nam tuy không ham danh lợi nhưng vẫn tích cực tạo nên suự nghiệp
công danh, lưu danh muôn thuở. Đối tượng phục vụ của kẻ sĩ Việt Nam là quốc gia dân tộc,
không theo thời và nhất là tâm niệm câu: “Uy vũ bất năng khuất” (không bị khuất phục trước
sức mạnh). Mục tiêu của kẻ sĩ Việt Nam là gìn giữ và truyền bá chính đạo (đạo làm người),
thủy chung, tận trung, độ lượng và nhân ái, công chính và tín nghĩa, kiên cường và bất
khuất, vị tha và hết lòng hy sinh vì tổ quốc vì quốc gia dân tộc.

Những điểm giống nhau của các mẫu người lý tưởng ngày xưa:
Quân tử Tàu, Hiệp sĩ Âu châu thời Trung cổ, samurai. đều giống nhau ở điểm họ được đào
tạo để phục tùng nhà vua, lãnh chúa… Đây là tinh thần phục tòng tuyệt đối trung thành.
Quan niệm “ Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” (Vua xử bề tôi chết, bề tôi không chết,
không trung), hoặc “Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con trai” (tam
tòng trong Nho giáo) là những quan điểm lỗi thời. Tuy nhiên, “kẻ sỉ” Việt Nam đã phần nào
thoát ra được sự ràng buộc này (thoát được cảnh phục vụ riêng cho vua), nhờ quan điểm :
“Trung với dân, với nước” nhất là đối những nhà trí thức cách mạng thời kỳ chống thực dân
Pháp.

Ngoài tinh thần phục tòng (trung với vua, với lãnh chúa…), tất cả những mẫu người lý
tưởng xưa đều có tài năng, trí thức và tấm lòng nhân bản. Muốn trở thành những mẫu
người lý tưởng này không phải dễ, mà cần học hỏi kỹ năng chiến đấu hoặc cai trị, trau dồi
kiến thức hiểu rộng, biết nhiều. Ngoài ra những người này còn phải tu thân, tự chế,  và nhất
là có lòng thương người…

Nói tóm lại, ngoài tinh thần phục vụ riêng cho vua chúa, chủ tướng, đảng phái…  những
mẫu người lý tưởng từ Á sang Âu xưa, đều có những ưu điểm để tuổi trẻ học hỏi, noi theo.

Đối với Nho giáo, “tam cương” (3 giềng mối “quân thần, phụ tử, phu phụ” nghĩa là 3 quan hệ
vua –tôi , cha-con, chồng-vợ) và “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng
tử), cần phải xét lại vì ngày nay tại Hải Ngoại, có nhiều điểm không còn thích hợp nữa. .

Đi tìm một mẫu người lý tưởng cho tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại

Một cách chính xác hơn, ta phải nói: “Đi tìm một mẫu người lý tưởng cho tuổi trẻ Mỹ gốc Việt

Thực vậy, đối với một học sinh, sinh viên sinh trưởng tại Mỹ, ta phải xác định một cách thực
tế:
- Em là ai? Câu trả lời thật giản dị: - “Em là người Mỹ gốc Việt”
- Quê hương em ở đâu? - “Quê hương em ở Wesminster, quận Cam, tiểu bang California.
Nhưng vì em là người Mỹ gốc Việt, quê hương tổ tiên, ông bà, cha mẹ em là nước Việt Nam.”
- Em nghĩ gì về bổn phận của em? – “Bổn phận của em trước hết là đối với quê hương em
được sinh ra và lớn lên. Em phải có bổn phận bảo vệ nước Mỹ. Làm việc, đóng góp tài
năng, trí tuệ và đóng thuế để … giúp cho sự phát triển của nước Mỹ, cũng như tuân hành
luật pháp tại đây.

Đối với quê cha đất tổ, em mang dòng máu Tiên Rồng, một dòng máu hào hùng bất khuất
chống ngoại xâm, nên em không thể quên Việt Nam, nơi chốn cội nguồn, quê cha đất tổ của
em. Em sẽ tìm cách giúp nước Việt Nam theo khả năng khi lớn lên. Lẽ tất nhiên, em được
ông bà, cha mẹ dạy dỗ, được nhà trường giáo dục nên biết thế nào là dân chủ, tự do, thế
nào là nhân bản, thế nào là độc tài, đảng trị. Em biết vế lịch sử tranh đấu chống ngoại xâm
của dân tộc Việt Nam, về hiểm họa Bắc phương xâm lược đời này sang đời khác. Em cũng
được giảng giải về cái đúng, cái sai, sự giả dối và sự chân thật qua những bài học, bài
giảng ở các lớp học Việt Ngữ. Em học tiếng Việt, nói sõi tiếng Việt và hiểu biết về địa lý, lịch
sử anh hùng dân tộc Việt. Em cũng thực hành những điều đã học từ nhà trường, từ ông bà,
cha mẹ, thầy cô, từ bạn bè và nhất là từ các phương tiện văn minh thời nay như máy
computer, internet… nên em sẽ tích cực tham gia các chương trình sinh hoạt tại nhà trường
và trong cộng đồng.

Như vậy, một mẫu người lý tưởng  cho tuổi trẻ Việt Nam tại Hải Ngoại ngày nay cần  
hội đủ 3 điểm căn bản như sau:

1-  Có một nếp sống bình thường ngoài xã hội của một dân tộc văn minh và có văn hóa: Tự
động xếp hàng, không chen lấn. Giữ gìn sạch sẽ và không xả rác tại những nơi công cộng.
Tôn trọng những chỗ dành riêng cho người già yếu và khuyết tật. Giữ trật tự, không ồn ào,
to tiếng tại những nơi cần sự yên lặng. Biết lễ phép, nhún nhường nhưng không quỵ lụy hay
khép nép sợ hãi. Biết nhìn thẳng, ngẩng mặt mà đi, nhưng không kiêu căng tự phụ. Có một
đời sống đạo đức của Kẻ Sĩ Việt Nam xưa. Thấm nhuần ý nghĩa của 5 điều thường có của
một kẻ sĩ hay người quân tử: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và đối với phái nữ, thêm 4 đức tính:
Công, Dung, Ngôn, Hạnh.   

2- Học giỏi, hiểu biết sâu rộng với một tình thần cầu tiến. Có một lý tưởng phục vụ nhân loại
sau khi thành tài. Biết giá trị đích thực của giải thưởng Nobel.

3- Có một đời sống hoạt động ngoài xã hội:  Sinh hoạt cộng đồng, dấn thân trong những
công tác xã hội, từ thiện. Chứng tỏ là một người hữu dụng cho cộng đồng, đất nước và
nhân loại.

Giải Thưởng Học Sinh, Sinh Viên Việt Nam Gương Mẫu

Năm 2010, có 15 em học sinh, sinh viên đã nhận được Giải Thưởng Học Sinh, Sinh Viên
Việt Nam Gương Mẫu do Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt và Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt
Ngữ Nam CA tổ chức. Đây là một giải thưởng chọn lọc và khó khăn, lần đầu tiên được tổ
chức tại quận Cam, nước Mỹ.

Muốn đoạt được giải thưởng “Gương Mẫu”, các học sinh phải có trình độ học lực giỏi (GPA
từ 3.5 trở lên), viết và nói được tiếng Việt lưu loát, hạnh kiểm tốt do thầy cô ở trường chứng
nhận, ngoan ngoãn trong gia đình do phụ huynh chứng nhận và nhất là phải sinh hoạt tại
trường hay ngoài cộng đồng do nhà trường hay Hội đoàn chứng nhận. Các em phải viết
một bài văn ngắn, trình bày việc học và việc làm của mình cũng như ước mơ sau này lớn lên
thành tài sẽ làm gì có ích cho nhân quần xã hội.

Sau khi đã xuất sắc vượt trội hơn các bạn về 4 điểm nêu trên (thầy cô chấm điểm căn cứ
trên các chứng từ và bài viết ngắn của ứng viên), các em còn phải trải qua một kỳ thi vấn
đáp để các thầy cô chấm thi có dịp kiểm điểm lại quá trình học tập và sinh hoạt của em cũng
như trình độ nói và hiểu tiếng Việt của em. Trong phần thi vấn đáp, ứng viên phải ứng khẩu
trả lời các câu hỏi thường thức và nguyện vọng, ước mơ khi thành tài.

Kết luận:
Một học sinh, sinh viên trúng giải thưởng gương mẫu sẽ có trình độ học thức giỏi, có đức
hạnh, không quên nguồn gốc Việt Nam và nhất là biết dấn thân sinh hoạt nơi trường học
cũng như ngoài cộng đồng.

Tương tự như người Quân Tử Trung Hoa, Hiệp sĩ Châu Âu thời Trung cổ, Võ Sĩ Đạo Nhật
và Kẻ Sĩ Việt Nam, một học sinh sinh viên gương mẫu trong hạn tuổi và cấp lớp của mình đã
phải cố gắng học để sau này trở thành một người có học thức, khả năng chuyên môn cao,
viết và nói tiếng Việt lưu loát để chứng tỏ mình là người Mỹ gốc Việt luôn nhớ tới cội nguồn.
Bên cạnh sự học để mở mang kiến thức, học sinh, sinh viên gương mẫu còn phải trau dồi
đạo đức theo đúng lời giáo huấn của tiền nhân: “Tiên học lễ, hậu học văn”, và “có học phải
có hạnh”. Ngoài việc tu học và tu thân, rèn luyện ý chí và đức hạnh, học sinh, sinh viên
gương mầu còn phải dấn thân hoạt động trong trường cũng  như  trong cộng đồng và trở
thành người hữu ích.

Ngày nay, ngoại trừ vài nước Cộng Sản, trong đó Đảng thay thế vai trò của vua, đa số các
quốc gia trên thế giới đều được điều hành bởi ba cơ quan lập pháp (quốc hội), hành pháp
(chính phủ) và tư pháp (hệ thống toà án). Ba cơ quan này độc lập với nhau, nhưng đều
tuân hành một bản Hiến Pháp chung. Đây là một thể chế dân chủ, đa nguyên, đa đảng và
tiến bộ. Những mẫu người lý tưởng ngoài tài năng và đức độ, ngày nay họ được đào tạo ra
để phục vụ quần chúng và nhân loại, với tinh thần tự do không bị đóng khung trong vai trò
“gia nô”, tôi tớ” cho vua quan, lãnh chúa, Đảng…

Chúng ta mong rằng Giải Thưởng Học Sinh, Sinh Viên Gương Mẫu sẽ được nhiều nhà trí
thức lưu tâm, khuyến khích và tu sửa điều lệ tuyển lựa…, ngõ hầu có thể tạo ra một mẫu
người lý tưởng,  hợp thời, hợp lý để làm gương tốt cho tuổi trẻ người Mỹ gốc Việt noi theo
vậy.   

Song Thuận
15 em học sinh, sinh viên được vào chung kết Giải Thưởng Gương Mẫu năm 2010
Thông Cáo

Giải thưởng Học Sinh, Sinh Viên Việt Nam Gương Mẫu - 2011


ĐƠN THAM DỰ GIẢI THƯỞNG
HỌC SINH, SINH VIÊN VIỆT NAM GƯƠNG MẪU - 2011


Họ & Tên: ________________________________________________
Điện thọai: (____) _____-________  Giới tính:      Nam;      Nữ        
Họ/Tên Cha: ___________________ Họ/Tên Mẹ: _________________
             Địa chỉ: ___________________________________________________
                     ___________________________________________________
       Email: ____________________________________________________
       Trường Mỹ: ________________________________________________
             Tên thầy cô: _____________________________________________
       Trường Việt ngữ: ___________________________________________
            Tên thầy cô: _____________________________________________


       Chữ ký phụ huynh chấp thuận cho con em tham dự và đồng ý để
       Ban Tổ Chức thu hình, thu thanh, và toàn quyền sử dụng dữ kiện,
       hình ảnh của con em để phổ biến về Giải Thưởng (nếu dưới 18 tuổi):
                       ________________________________________________


ĐƠN THAM DỰ XIN GỬI VỀ:
            GIẢI THƯỜNG HỌC SINH, SINH VIÊN VIỆT NAM GƯƠNG MẪU 2011
            8295 Westminster Blvd #270
            Westminster, CA 92683

Hạn chót nộp đơn chiếu theo dấu đóng bưu điện: Thứ sáu 24 tháng 6, năm 2011.
Hạn chót nộp chứng từ bổ túc theo dấu đóng bưu điện: Thứ sáu 8 tháng 7, 2011.



____________________________________________________________________
PHẦN GHI CHÚ CỦA BAN TỔ CHỨC
Ngày nhận đơn: _____/____/20        .        MÃ SỐ: ____-______


      


1.  PHẦN TRÌNH BÀY CÁ NHÂN: (**cần chứng từ)                          MÃ SỐ: ____-______
-  Cấp lớp Việt Ngữ: ________  Lớp trường Mỹ: ________ GPA trường Mỹ**: __________
-  Sinh ngày _____, tháng _____, năm _________; Nơi Sinh:
_________________________
-  Thường trú nhân thẻ xanh     ; Công dân Mỹ      ;  Ngày nhập cảnh Mỹ: ___/____/_______
   ** (cần xuất trình chứng minh khi vào vòng phỏng vấn)
-  Số Anh/chị/em: ______ (không kể cá nhân mình); Con thứ mấy trong gia đình?_____
-  Tự viết tay về mình bằng tiếng Việt:
(có thể viết thêm ở trang khác- nếu đánh máy bị trừ 30 điểm)















2.  SINH HOẠT HỌC ĐƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG: (đính kèm chứng từ - có thể viết hơn 10)
1.
_______________________________________________________________________
2.
_______________________________________________________________________
3.
_______________________________________________________________________
4.
_______________________________________________________________________
5.
_______________________________________________________________________
6.
_______________________________________________________________________
7.
_______________________________________________________________________
8.
_______________________________________________________________________
9.
_______________________________________________________________________
10.
_______________________________________________________________________

      



3.  PHẦN CHA MẸ NHẬN XÉT:                                                   MÃ SỐ: ____-______
Viết thêm về con em (viết bằng tiếng Việt)

•        Hạnh kiểm:




•        Học lực:




•        Sinh họat:




















      




4.  PHẦN THẦY CÔ NHẬN XÉT:                                                 MÃ SỐ: ____-______
Viết thêm về học trò (viết tiếng Việt hay tiếng Mỹ)

•        Hạnh kiểm:




•        Học lực:




•        Viết thêm về học trò: