Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
Nhân ngày Giỗ Tổ:
Tản mạn về Người Việt Thời Cổ Sử  

Mở Đầu:  
Một nước trong quá trình lịch sử, có thể có nhiều triều đại với nhiều vua chúa, nhiều
thể chế với nhiều nhà lãnh đạo. Nhưng con dân chỉ có một Quốc Tổ mà thôi...Giỗ Tổ
là một hình thức biểu lộ tình yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam trong tinh
thần "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

"Dù ai buôn bán ngược suôi"
"Nhớ ngày giỗ Tổ Mồng Mười tháng Ba"
"Dù ai buôn bán gần xa"
"Nhớ ngày giỗ Tổ tháng Ba Mồng Mười ”

Biên khảo về nguồn gốc người Việt Nam thời thượng cổ,  thường các nhà nghiên cứu chỉ có
thể căn cứ vào truyền thuyết qua câu chuyện truyền khẩu, và một số dữ kiện khảo cổ để
lập thuyết, nên các lập luận đưa ra cũng chỉ là những giả thuyết mà thôi. Những giả thuyết
này thường không nhất quán, đôi khi còn mâu thuẫn nhau.  
Nhân ngày giỗ Tổ, tản mạn về người Việt thời Cổ Sử cũng chỉ là một câu chuyện mạn đàm,
không phải là một giả thuyết hay một bài khảo cứu về nguồn gốc người Việt. Tuy nhiên
chúng ta cùng đồng ý với nhau một điểm là dòng giống người Việt, dù theo giả thuyết nào đi
nữa, dù có bị pha trộn hay bị ảnh hưởng văn hóa ngoại lai qua nhiều thời đại đi nữa, từ thời
thượng cổ tới nay trước sau vẫn là một dòng giống riêng biệt. Dòng giống Việt nhờ vào các
đặc tính về tinh thần như  nhu hòa, thông minh và cần cù làm việc, có tình có nghĩa, nhưng
luôn luôn bất khuất không chịu cúi đầu trước bạo lực: Đó là tinh thần Việt Nam được di
truyền và nuôi dưỡng bằng dòng máu Việt Nam, còn gọi là dòng máu Tiên Rồng.

Sau đây chúng ta cùng
mạn đàm về người Việt cổ qua các thời Hồng Bàng, thời Nhà Thục
và thời Nhà Triệu.

Người Việt thời Hồng Bàng (2879-258 tr.TL)
Theo truyền thuyết và theo các cuộc nghiên cứu cổ sử về nguồn gốc người Việt Nam,  tổ
tiên chúng ta  thuộc về một giống người Việt xuất hiện rất sớm (khoảng 3000 năm trước Tây
Lịch), ở miền  Tây Tạng phía Bắc Trung Hoa, sống rải rác với các giống người Hán và người
Tam Miêu.

Về sau,  giống Hán hùng mạnh lên đã đánh đuổi người Tam Miêu xuống phía Nam. Giống
Việt  sống về nghề chài lưới và trồng lúa nước, đã di cư theo người Tam Miêu về phương
Nam và lập ra một nước riêng biệt lấy tên là Văn Lang (Văn có nghĩa là văn vẻ, có học vấn,
có văn hiến - Lang là một thứ ngọc thạch). Nước Văn Lang rất rộng lớn, phía Bắc giáp Động
Đình Hồ (Hồ Nam), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm
Thành). Nước Văn Lang được thành lập vào năm 2879 trước Tây Lịch, tính tới năm 2004 đã
được 4883 năm nên tính tròn là năm ngàn năm.

Giống người Việt bao gồm nhiều Bộ Tộc mà người Hán gọi chung là Bách Việt (Bách có
nghĩa là nhiều, không nhất thiết là con số 100, giống như Bách tính là trăm họ, có nghĩa là
dân chúng hay nhân dân). Người Việt Nam thuộc về Bộ Tộc Lạc Việt, cũng có tên khác (do
người Hán gọi) là người Giao Chỉ.

Vị vua đầu tiên lập ra nước Văn Lang là Kinh Dương Vương, và vị vua kế tục là Lạc Long
Quân. Lạc Long Quân kết hôn với Bà Âu Cơ, theo truyền thuyết đã sinh ra 100 người con
trai. Nước Văn Lang còn có tên gọi là Xích Quỷ (có lẽ do người Hán gọi như thế vì thấy
người Lạc Việt có phong tục vẽ mình và nhuộm răng đen, ăn trầu…)

Cũng theo truyền thuyết, Lạc Long Quân đưa 50 con xuống biển và Bà Âu Cơ đưa  50 con
lên rừng. Truyền thuyết này có lẽ ám chỉ một biến cố trọng đại nào đó đã xẩy ra đối với
nước Văn Lang, và suốt mấy trăm năm ở thời kỳ thượng cổ này, lịch sử chìm trong quên
lãng được gọi là thời khuyết sử (thời khuyết sử cũng giải thích sự vô lý về triều đại Hồng
Bàng từ năm 2879 tới năm 258 trước Tây Lịch, tổng cộng 2622 năm chia cho 20 đời vua,
mỗi đời vua trị vì tới 150 năm là điều khó xẩy ra).

Trong thời khuyết sử, có lẽ các Bộ tộc Việt  (Bách Việt) thiếu đoàn kết và thôn tính lẫn nhau,
nên chính trị gia thời đó đã nêu lên truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc một trăm trứng,
nở ra một trăm con, với mục đích tuyên truyền, kêu gọi các bộ tộc Việt đoàn kết với nhau vì
cùng là anh em cùng một mẹ.

Tộc Lạc Việt trong nhóm Bách Việt, phân nửa đã di cư  thêm một lần nữa từ vùng Động
Đình Hồ, Lưỡng Quảng tới vùng châu thổ sông Hồng, đồng hóa những dân tộc sống lâu đời
ở đây, vẫn giữ tên nước là Văn Lang, lập nghiệp và sống yên bình  hàng ngàn năm. Nước
Văn Lang bấy giờ, biên cương bị thu hẹp lại giới hạn ở miền Bắc và vài tỉnh  phía bắc Trung
phần VN ngày nay,  kinh đô đóng ở Phong Châu, do các vị Vua Hùng dựng nên và trị vì theo
chế độ phụ đạo cha truyền con nối, chia nước ra thành 15 Bộ, có các quan Lac Tướng, Lạc
Hầu phụ tá, các Quan Bồ Chính phụ coi sóc dân, và gọi con trai (hoàng tử)  là Quan Lang,
con gái (công chúa) là Mị Nương.

Người Việt Nam nhớ ơn các vị vua Hùng đã có công xây dựng nước Văn Lang, nên đã xây
đền thờ trên núi Ngũ Lĩnh (Phú Thọ) để thờ phụng. Hàng năm đến ngày 10 tháng 3 âm lịch,
dân chúng lại kéo nhau lũ lượt trẩy Hội đền Hùng, và cùng tôn vinh Vua Hùng là Quốc Tổ.  

Tới năm 214 trước Tây Lịch, Vua Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân đi đánh lấy
Bách Việt. Nước Âu Lạc (Nhà Thục)  cũng xin thần phục nhà Tần. Vua Tần chia đất Bách
Việt và đất Âu Lạc ra làm 3 Quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây), và
Tượng Quận (Âu Lạc). Như vậy, toàn thể đất Văn Lang (cũ và mới) tức đất Xích Quỷ thời
Kinh Dương Vương đều bị phụ thuộc vào nhà Tần. Đây cũng là lý do tại sao người Việt luôn
luôn cay đắng, muốn đòi về Lưỡng Quảng là phần đất của Tổ Tiên.
Cũng xin nói thêm, dân Bách Việt (trong đó có Lạc Việt), vì hoàn cảnh sinh sống phải ép
mình ở lại phần đất Quảng Đông Quảng Tây, đã không chịu khuất phục nhà Tần, nên  trốn
vào rừng ở và nổi dậy giết Đồ Thư dành tự chủ. Thời nhà Triệu những người gốc Việt (người
Nam Việt) ở Quảng Đông và Quảng Tây đã chống cự lại sự xâm lăng của nhà Hán rất mãnh
liệt, và thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, những người gốc Việt ở Hợp Phố (Quảng Đông)  đã
cùng theo Hai Bà nổi dậy.

Thời  nhà Tần xâm lăng Bách Việt tương đương với thời Vua An dương Vương Thục Phán
(257-207 tr.TL) đã chiếm được nước Văn Lang của các vị vua Hùng và lập ra nước Âu Lạc.

Họ Hồng Bàng (2879-258 tr.TL) làm vua nước Văn Lang, tương đương với các đời vua bên
Tàu từ vua Hoàng Đế (2697-2597 tr.TL) là vị khai sáng ra nước Tàu, tới vua Nghiêu (2357-
2257 tr.TL), vua Thuấn (2256-2208 tr.TL), vua Vũ (2205-2197 tr.TL), vua Thang (1783-
1754 tr.TL), Văn Vương (1186-1135 tr.TL), Vũ Vương với nhà Chu (1134-770 tr.TL), Đời
Xuân Thu (722-481 tr TL), đời Chiến Quốc (403-256 tr.TL). Cũng nên biết thêm, đời Chiến
Quốc bên Tàu vừa chấm dứt thì 1 năm sau ở phương Nam họ Thục (Thục Phán) chiếm  
nước Văn Lang. Đến khi nhà Tần mất ngôi năm 206 tr. TL (nhà Tiền Hán lên làm vua
phương Bắc) thì cũng một năm sau ở phương Nam, nhà Thục (Thục Phán) cũng bị mất
nước Âu Lạc vào tay Triệu Đà (năm  207 tr.TL). Triệu Đà lập ra nước Nam Việt (207 tr.TL).
Đến năm 111 tr.TL nước Nam Việt bị nhà Hán thôn tính, trong đó nước Âu Lạc là một thành
phần của nước Nam Việt nên cũng bị nội thuộc vào nhà Hán.

Trong suốt thời gian 2768 năm dựng nước (2879-111 tr.TL) ,  người Lạc Việt đã can trường
khắc phục thiên nhiên lập ra nước Văn Lang rộng lớn, và sau đó thu hẹp ở vị trí an toàn xa
cách vùng ảnh hưởng của tộc Hán (gồm 15 Bộ ở Bắc Việt và bắc Trung Việt), rồi trở thành
Âu Lạc, cũng như thuộc về nước Nam Việt . Mặc dù không biết rõ về tổ chức chính trị, quân
sự và xã hội người Việt thời Thượng Cổ, nhưng xuyên qua các câu chuyện cổ tích và cách
cư xử của người Hán đối với người Việt, chúng ta có thể hình dung ra một giống người Việt
thời thượng cổ lập quốc đã có một nếp sống văn minh ,biết làm binh khí bằng đá (thời đá
mài), biết đúc trống đồng (thời đồ đồng), chế thuyền đánh cá, trồng lúa nước, kinh doanh
(truyện dưa hấu)…Ngoài ra, người Việt còn mang một tinh thần bất khuất, cương quyết
chống lại sự đồng hoá của tộc Hán, và có tài ngoại giao khôn khéo giữ vững được biên
cương cũng như sự tự chủ của dân tộc dù cho phải sát nhập vào nước mới thành lập là Âu
Lạc hay Nam Việt.  

Người Việt thời Nhà Thục (257-207 tr.TL)
Sử cho biết Thục Phán không phải là người Việt, nhưng sau khi chiếm được nước Văn Lang
đã sát nhập vào phần đất của mình ở phía Bắc (thuộc Quảng Tây?) lập ra nước Âu Lạc rồi
xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê và đem văn hóa ở quê hương cũ hóa mình
đồng hóa với văn hóa của tộc Việt, để lo phát triển quê hương mới thành một nước hùng
cường, tự trị với Bắc phương lúc đó do nhà Tần làm vua ( Sau nhà Thục xin thần phục nhà
Tần, nhưng vẫn giữ được quyền tự trị).
An Dương Vương xây Loa thành năm 255 tr.TL. Đây là một kiến trúc vừa mới  lạ, vừa hiện
đại thời bấy giờ, gồm có một toà thành cao, rộng hàng nghìn trượng, xây theo đường cuốn
trôn ốc.

An Dương Vương còn biết xử dụng tên nỏ bằng tre, tên nhọn bịt đồng. Ngoài ra theo truyền
thuyết, An Dương Vương có nỏ Thần (Nỏ liên thanh bắn một phát ra hàng trăm mũi tên rất
chính xác?), khiến quân của Nhâm Ngao và Triệu Đà đánh không nổi. Sau Triệu Đà phải
dùng kế “”gián điệ”p”, giả vờ hòa và sai con trai là Trọng Thủy xin cầu hôn lấy công chúa
nước Âu Lạc là nàng Mỵ Châu. Trọng Thủy dò hỏi được bí mật chiếc “nỏ thần”, đã mưu
phá hư  bộ phận lẫy nỏ, vô hiệu hóa hệ thống phòng thủ của quân đội nhà Thục, nên Triệu
Đà đã chiếm được nước Âu Lạc để lập ra nước Nam Việt.

Bàn về câu chuyện nỏ thần, có hai ý kiến dựa theo khoa học ngày nay:

-        Có thể người phát minh ra “nỏ thần” (Cao Lỗ, quê quán tại xã Cao Đức, huyện Gia
Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) đã chế ra đươc một chiếc nỏ “”liên thanh”” tương tự như
súng Đại Liên hay Trung Liên ngày nay.

-        Có thể người phát minh ra ”nỏ thần” đã phát minh ra một dàn phóng tên bay (phi
Tiễn), hoặc tên lửa (hỏa tiễn), bắn một phát ra hàng trăm mũi tên một lúc, có khả năng sát
hại hàng trăm địch thủ. Vấn đề đặt ra là các mũi tên nhỏ (đào thấy rất nhiều ở vùng Cổ Loa)
được sắp xếp thế nào để có thể bắn ra liên tục, hoặc bắn ra cùng một lượt? Có thể các mũi
tên nhỏ bằng đồng được xếp sẵn trong một cái ống xoay quanh một trục (tựa như súng
roulette), các mũi tên được phóng đi bằng sức hơi ép? Cũng có thể các mũi tên đồng được
nhồi trong một chiếc ống như  đầu viên đạn ngày nay, phía sau có vỏ đạn chứa thuốc nổ.
Bộ phận kích hỏa (lẫy nỏ) làm nổ và gây sức ép bắn các mũi tên đi tương tự như ta bắn
súng phóng lựu hay hỏa tiễn ngày nay? Nếu đúng vậy, người Lạc Việt phải được coi là cha
đẻ của Hỏa Tiễn mới đúng!

Người Việt thời Âu Lạc nhà Thục, quả đã tiến bộ thêm một bực, nhờï giao lưu văn hóa giữa
người Lạc Việt và các giống người phương Bắc đã phần nào thấm nhuần văn minh Hán tộc.
Người Việt thời Nhà Thục còn hãnh diện về kiến trúc Loa thành có một không hai trong các
kiến trúc thành quách trên thế giới. Ngoài ra, người Việt thời nhà Thục với Nỏ Thần, đã rất
hãnh diện không những về phát minh khoa học (làm được nỏ liên thanh), mà câu chuyện nỏ
thần với mối tình Mỵ Châu Trọng Thủy đã gây nhiều cảm hứng cho người đời sau về chuyện
Tình Mỵ Châu Trọng Thủy, vừa thương tâm, vừa lãng mạn, hay hơn bất cứ chuyện tình nào
trên thế giới.

Người Việt thời Nhà Triệu (207-111)
Nhà Triệu lập ra nước Nam Việt, bao gồm các Quận Nam Hải (Quảng Đông) và Tượng
Quận (Âu Lạc).

Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim) viết: “Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu
có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu
đánh lấy Aâu Lạc để lập ra một nước tự chủ ở phương Nam. Nhưng công việc chưa thành,
thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình
làm quan úy quận Nam Hải.

Năm Quí Tị (208 tr.TL) là năm thứ 50 đời vua An Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang
đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt”

Như vậy, nước Nam Việt là một nước mới, được Triệu Đà thành lập sau khi sát nhập Quận
Nam Hải (nơi Triệu Đà trấn nhậm) với nước Âu Lạc. Trường hợp này giống như Thục Phán
đánh chiếm Văn Lang rồi sát nhập vào phần đất của họ Thục để thành lập ra nước Âu Lạc.
Chỉ có sự khác biệt là họ Thục đóng đô ở Phong Khê (thuộc phần đất Văn Lang), trong khi
họ Triệu đóng đô ở Phiên Ngung thuộc Nam Hải là lãnh thổ của họ Triệu.

Các Sử  gia cũ như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Trần Trọng Kim…đều coi Nhà Triệu như một
nhà chính thống trong Sử Việt.

Ngược lại, Ngô Thời Sĩ trong Việt Sử Tiêu Aùn, cũng như một số nhà viết sử hiện nay đều
cho rằng nước ta bị Bắc Thuộc tức Nội thuộc nhà Triệu (Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn
Sơn), hoặc Ngoại Thuộc nhà Triệu (Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam - Phạm Cao Dương).

Dù nước ta bị “”nội thuộc”” hay “”ngoại thuộc”” nhà Triệu, người Việt sinh sống tại phần
đất mới bị “”nội thuộc”” (tức Âu Lạc, Tượng Quận hay Bắc Việt và mấy tỉnh phía Bắc Trung
Việt ngày nay) được Triệu Đà đối xử tử tế, khác với thời lệ thuộc nhà Hán hay lệ thuộc Pháp
sau này (Triệu Đà chỉ cử hai viên sứ thần đến để trông coi sổ sách và thu thuế). Có thể nói
người Việt trong thời gian này được sống “”tự trị”, giữ nguyên tổ chức xã hội, phong tục tập
quán  cũ.

Còn người Nam Việt thì sao? Người Nam Việt có liên hệ gì với người Lạc Việt thuộc Âu Lạc
(khi chưa mất nước)? Nếu giả thuyết có nước “”Xích Quỷ”” ; nếu giả thuyết thuở Kinh
Dương Vương lập quốc, người Lạc Việt và người Bách Việt có liên hệ chủng tộc, và nếu giả
thuyết cương thổ nước ta thời khởi thủy rộng tới Động Đình Hồ,  bao gồm luôn Lưỡng
Quảng, thì chúng ta cũng có thể nêu lên giả thuyết coi người Nam Việt và Lạc Việt là ”đồng
bào”. Lữ Gia là người Nam Việt, nên đã cương quyết chống lại người Tàu (nhà Hán). Triệu
Đà là người Tàu, làm vua nước Nam Việt, chỉ là một nhà “”cai trị””, đại diện cho giai cấp “”
thống trị”” như một số các nhà viết Sử nhận xét, vì thế chính thể nước Nam Việt thời đó rất
đặc biệt: “”Vua Tàu””, “”dân Việt”, nước “”Liên Bang”” (khá giống Liên Bang Xô Viết đã
bị sụp đổ ngày nay?).

Khả năng đồng hóa của người Việt  thời Triệu Đà rất mạnh. Chính bản thân Triệu Đà đã bị
phong tục tập quán người Nam Việt “”đồng hoá”” nên khi tiếp Sứ giả nhà Hán, ông đã
ngồi “”xếp vòng tròn”” (một thói quen của người Việt).

Người Nam Việt chính là kẻ thù của nhà Hán (người Tàu). Nước Nam Việt nếu may mắn
không bị người Tàu (Nhà Hán) xâm lăng và đô hộ, thì cho đến nay người Lạc Việt và người
Nam Việt có lẽ đã hòa đồng thành một khối, và nước Việt Nam ta bao gồm luôn Lưỡng
Quảng, được cường thịnh từ lâu rồi! (đúng với mộng ước của người Anh Hùng Tây Sơn  
Nguyễn Huệ).

Kết Luận: Nói tóm lại, người Việt trải qua các thời đại từ Hồng Bàng,  Nhà Thục  tới Nhà
Triệu, luôn luôn tỏ ra là một dân tộc có trình độ văn minh, với tinh thần “”dĩ hoà vi quý””,
nhưng lại rất “”bất khuất”” trước kẻ thù. Người Lạc Việt và người Bách Việt (sau thành
người Nam Viêt) có nhiều điểm giống nhau  về phong tục tập quán và tiếng phát âm, nên có
thể có sự liên hệ về nguồn gốc và nòi giống.? .
Chúng ta rất hãnh diện về nòi giống Việt, nhờ có tiếng nói và nền văn hoá đặc thù và nhờ “
văn chương truyền khẩu qua ca dao tục ngữ, nên đã có khả năng sống tự cường độc lập,
và khả năng “”đồng hóa”” những dân tộc sống  tiếp cận. Cũng nhờ thế, người Việt giữ
vững được nước, không bị Hán hóa dù phải chịu hàng ngàn năm Bắc thuộc.
Song Thuận

Tài liệu tham khảo:
-        Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Nhà Xuất Bản KHXH 1998
-        Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim - NXB Miền Nam 1971
-        Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn - Tủ Sách Sử học
-        Lịch Sử Dân tộc VN - Phạm Cao Dương - Truyền Thống Việt 1987
-        Những Câu Chuyện Việt Sử - Trần Gia Phụng - tập 2, 1999
-        Nho giáo - Trần Trọng Kim - Tập 1,
-        Trung Quốc Sử Cương - Phan Quang - Đại Nam xuất bản
           Tiểu sử Vua Hùng

Tiểu sử: Vua Hùng là tên gọi chung 18 đời Vua Hùng trong họ Hồng Bàng (2879-258 tr.
Tây lịch)
. Nếu kể cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, có tất cả 20 đời Vua trong họ
Hồng Bàng.
Theo truyền thuyết, Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, lấy
bà Tiên sinh ra Lộc Tục. Vua phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam tức Kinh Dương
Vương.
Kinh Dương Vương kết hôn với Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm nối ngôi vua, xưng là Lạc Long
Quân.
Lạc Long Quân cưới bà Âu Cơ sinh được 100 con trai. Về sau, 50 con theo cha xuống biển
và 50 con theo mẹ lên núi, đi về phương Nam lập ra nước Văn Lang.
Người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương thứ nhất, đóng đô ở Phong
Châu, chia nước ra làm 15 Bộ, cha truyền con nối theo chế độ Phụ Đạo, có quan Lạc
Tưóng, Lạc Hầu phụ tá và quan Bồ Chính là chức quan nhỏ trông coi Lạc dân, và gọi con
trai là Quan Lang, con gái là Mỵ Nương. Hùng Vương truyền ngôi được 18 đời.

Công đức: Các vị vua Hùng có công lập nên nước Văn Lang, tức là nước Việt Nam ngày
nay, nên gọi là Quốc Tổ Hùng Vương.

Đền thờ: Trên núi Ngũ Lĩnh, Huyện Phong Châu, Tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) Bắc Việt.

Tại Hoa Kỳ, Đền Hùng ở Lillte Sàigòn do Hội CNAM & Hoi Den Hung Hai Ngoai thờ phụng.

Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 10 tháng 3 Âm Lịch mỗi năm.
King Hùng (2879 B.C.)

According to Vietnamese legend, in 2879 B.C., Kinh Dương Vương
came to power and founded Hồng Bàng Dynasty. This made him
become the King of Bách Việt region. His son Lạc Long Quân
married Âu Cơ. Together, they had one hundred children who were
all male.. Because the parents belonged to different realms, they
separated. The father took fifty children to the ocean, while the
mother took fifty children toward the mountains. The eldest son was
the first king of eighteen different Hùng Vươngs, or Hùng Kings. The
First Hùng was named Quốc Tổ Hùng Vương. It was he who
founded Văn Lang, which is now what we know as Việt Nam.
        Vua Hùng Dựng Nước

             Vua Hùng dựng nước Văn Lang
             Năm ngàn năm trước, huy hoàng trời Đông
             Giang san một dải mênh mông
             Bắc phương Hán tộc, Nam phương Lạc Hồng
             Động Đình là ải biên cương
             Phía Tây Ba Thục, tiếp dòng Trường Sơn!           
             Phía Nam giáp với Hồ Tôn
             Nhìn ra Nam Hải, sóng dâng vơi đầy…
             Bộ tộc Lạc Việt anh tài
             Mình xâm rồng rắn khiếp loài kình ngư
             Phong Châu là chốn kinh đô
             Lạc Hầu, Lạc Tướng giúp vua trị vì
             Các quan Bồ Chính, trưởng chi
             Coi sóc làng xóm, vỗ về Lạc dân
             Thuở còn trời đất hỗn mang
             Nhà sàn ta ở, sống gần văn minh!
             Cha truyền con nối yên bình
             Chính trị “phụ đạo”, dân tình thuần lương.
             Hoàng Tử tên gọi Quan Lang
             Mị Nương: công chúa, cành vàng ngày xưa
             Hồng Bàng là họ nhà vua
             Hăm sáu thế kỷ (2622 năm)
             Trải qua hai mươi đời…
             Thuần phong mỹ tục sáng ngời
             Tổ Tiên: thờ phụng, Đạo Trời: niềm tin.
             Đời đời tiết liệt trung trinh
             Tinh thần bất khuất, đấu tranh chẳng sờn!
             
             Ông cha dựng nước oai hùng
             Cháu con hãnh diện, dốc lòng biết ơn
             Ai ơi! Uống nước nhớ nguồn
             Ăn trái nhớ kẻ vun trồng nên cây!

                                     
Song Thuận
             
Đền Vua Hùng
trên núi Nghĩa Lĩnh Phú Thọ Bắc Việt
Biểu tưọng Quốc Tổ Hùng Vương (2879 B.C.)
tại Công Viên Anh Hùng (Midway City)
Giỗ Tổ Hùng Vương
(Thứ Bảy 24-4-2010 - Hội Đền Hùng Nam Cali tổ chức)
Hinh anh: Nguyễn Ninh Thuận