Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay




Tổng quát lịch sử thời Hồng Bàng

Theo truyền thuyết, Kinh Dương Vương (2879 - ? tr. TL) là vị vua đầu tiên nước cổ Việt, cai
quản vùng đất phương Nam của Trung Quốc ngày nay, từ Ngũ Lĩnh, Động Đình Hồ (gần
sông Dương Tử, về phía nam còn gọi là Lĩnh Nam bao gồm các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông
và Quảng Tây, Bắc Việt và một phần phía bắc Trung Việt bây giờ), tới nước Hồ Tôn (Chiêm
Thành sau này). Sử gọi tên nước của Kinh Dương Vương là “Xích Quỷ” (hay Xích Qui -
nước có nhiều Rùa lớn ở phía Nam nước Tàu?). Vùng đất phương Nam này còn được gọi
là Nam Giao, tức Giao Chỉ, bao gồm đất Bách Việt, Văn Lang, Việt Thường...

Truyền thuyết nói rằng :” Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông đi tuần thú phương nam
đến núi Ngũ Lĩnh gặp một nàng Tiên, lấy nhau đẻ ra Lộc Tục. Đế Minh phong cho Lộc Tục
làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là "Xích Quỷ". Bờ cõi nước
"Xích Quỷ" bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn
(Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.”
“Kinh Dương Vương làm vua nước "Xích Quỷ" vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây
Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng
là Lạc Long Quân”. (Trần Trọng Kim, sách đã dẫn tr.11, 12)“Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ,
sinh ra trăm trứng, nở ra trăm con. Khi các con đã lớn, Lạc Long Quân bảo bà Âu Cơ
rằng:” Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó.”
Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam Hải”.
(ĐVSKTT, tr. 132)

“Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang*, xưng là Hùng
Vương. Nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ". Tuy nhiên, tên gọi 15 bộ bị nhiều nhà nghiên
cứu lịch sử phê phán, trở thành một nghi vấn lịch sử.”

“Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn là
Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị
Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là phụ
đạo.”

"Nếu kể cả đời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, họ Hồng Bàng (2879 – 258) làm vua
được 20 đời, đến năm Quí Mão (258 tr. TL) thì bị Nhà Thục lấy mất nước.” (Trần Trọng
Kim, sách đã dẫn, tr. 13) .
Thời gian trị vì của họ Hồng Bàng kéo dài 2622 năm, là một nghi vấn lịch sử.

*
Văn Lang theo  tiếng Hán còn có nghĩa là người đàn ông, con trai (lang) vẽ  mình (văn),
tương tự câu thơ của Liễu Tư Hậu: “Cộng lai Bách Việt văn thân địa”, có nghĩa là cùng đi tới
đất Bách Việt là xứ người vẽ mình (An Nam Chí Lược - Lê Tắc – tr. 70)

Địa Danh Lịch Sử

1- Nam Giao
2- Ngũ Lĩnh
3- Lĩnh Nam
4- Động Đình Hồ
5- Giao Chỉ
6- Xích Quỷ
7- Bách Việt
8- Văn Lang
9- Việt Thường
10- Hồ Tôn
11- Nam Hải
12- Phong Châu
13- Bạch Hạc
14- Vĩnh Yên

1- Nam Giao là gì? Ở đâu?

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư phần Ngoại Kỷ (quyển 1), sử thần Ngô Sỹ Liên viết: “Xét: Thời
Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt.
Vua Nghiêu sai Hy thị (họ Hy) đến ở Nam Giao (Hy Thúc trạch Nam Giao), và ghi chú:
“Tương truyền vua Nghiêu sai anh em họ Hy (Hy thị) và họ Hòa (Hòa thị) đi bốn phương để
trông coi công việc thiên văn lịch pháp. Hy Thúc là em Hy Trọng đến ở miền đất phương
Nam (Kinh Thư, Nghiêu điển).
Theo Khổng An Quốc thời Tây Hán chú giải Kinh Thư chỉ cho Nam Giao là phương Nam.
Mãi đến thời Đường, Tư Mã Trinh mới giải thích Nam Giao là Giao Chỉ ở phương Nam.
(ĐVSKTT , trang 131).
Như vậy, theo Tư Mã Trinh Nam Giao là Giao Chỉ ở phương Nam, được biết đến từ thời vua
Nghiêu bên Tàu và được chép trong Kinh Thư.
Thời vua Nghiêu (2356-2255 BC) được Nguyễn Hiến Lê xếp vào thời kỳ “bán thực , bán
huyền” (semi-historique). (Sử Trung Quốc , trang 47), và Kinh Thư (còn gọi là Thượng
Thư), chép sử ba đời Hạ, Thương, Chu (Tam Đại, 2205-1111 BC) là những thời kỳ còn
thiên nhiều về truyền thuyết.

2- Ngũ Lĩnh là gì? Ở đâu?

Ngũ Lĩnh là rặng núi phía Nam Trung Quốc, chia Trung Quốc ra làm hai vùng Nam Bắc: địa
lý, khí hậu,nhân văn..đều khác nhau.

Miền đất phía Bắc có châu thổ sông Hoàng Hà tương đối phì nhiêu, đất đai còn lại khô cằn,
cây cỏ thưa thớt, khí hậu lạnh lẽo. Người phương Bắc thuở ban đầu sống bằng nghề du
mục và săn thú, phải liên tục chống chỏi với thiên nhiên nên có nhiều sáng tạo và phát
minh. Nông sản chính là nuôi bò, dê, trồng lúa mì và kê.

Trái lại, miền Nam khí hậu ấm áp, cây cối xanh tươi, sản vật phong phú, đời sống dễ chịu,
sung túc nên thích sống môt đời nhàn hạ, suy nghĩ thâm trầm, thiên về tình cảm mà thiếu về
sáng chế phát minh. Nông sản chính là trồng lúa nước, và đánh bắt cá.

Phía Nam núi Ngũ Lĩnh thuộc về miền Nam, còn gọi là Lĩnh Nam:

“Lĩnh Nam là vùng đất ở phía nam núi Ngũ Lĩnh (rặng Nam Lĩnh ngày nay), gồm Quảng
Đông và Quảng Tây (Lưỡng Quảng). Hiện nay ở Mai Quan trên rặng Đại Dữu Lĩnh (một
trong Ngũ Lĩnh, phía bắc Quảng Đông) còn có bia đá đề một bên là Nam Việt Hùng Quan,
một bên ghi là Lĩnh Nam Đệ Nhất Quan. Vậy Hai Bà đã bình định nguyên vùng Lĩnh Nam, và
đây là đất của người Việt cổ.” (TVB)

Nhiều thuyết khác nhau về Ngũ Lĩnh. Có thuyết cho rằng Ngũ Lĩnh là nơi có 5 ngọn núi, ở
biên giới phía nam của Trung Quốc: “Theo Quảng Châu Ký, đó là các núi: Đại Dũ, Thủy An,
Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương, “ (Chú thích của ĐVSKTT, tr. 132)
Thuyết khác cho rằng Ngũ Lĩnh là tên 5 lối đi vào đất Bách Việt.

Ngũ Lĩnh
(Theo tài liệu của Trần Việt Bắc)

Là rặng Nam Lĩnh ngày nay, gồm 5 rặng núi nằm kế nhau theo hướng đông bắc, từ phía
tây qua đông theo thứ tự như sau:

Việt Thành lĩnh (Yuechengling 越城岭 )
Đô Bàng lĩnh (Dupangling 都庞岭)
Minh Chử lĩnh (Mengzhuling 萌渚岭)
Kỵ Điền lĩnh (Qitianling 骑田岭)
Đại Du (Dữu) lĩnh (Dayuling 大庾岭)

Rặng Ngũ Lĩnh kéo dài từ phía bắc tỉnh Quảng Tây sang đến một phần phía bắc tỉnh
Quảng Đông. Ngũ Lĩnh phân chia ranh giới các tỉnh Hồ Nam - Quảng Tây, Hồ Nam - Giang
Tây - Quảng Đông, thành hai vùng địa lý khác biệt.

Phía bắc Ngũ Lĩnh, tỉnh Hồ Nam có sông Tương theo hướng nam- bắc chảy vào hồ Động
Đình và sông Dương Tử. Sông Cám (hay Cống giang) cũng theo hướng nam - bắc chảy
vào hồ Bá Dương .
Phía nam, ở tỉnh Quảng Tây có sông Li theo hướng bắc - nam chảy vào sông Chu. Quảng
Đông có sông Bắc cũng theo hướng bắc – nam chảy vào sông Tây (Tây giang) .

Rặng Ngũ lĩnh không cao, trung bình từ 1000 tới 1500 mét (khoảng 3300 tới 5000 feet).
Tuy nhiên rất hiểm trở và khó vượt qua bằng đường bộ. (theo Giao Chỉ và Tượng Quận -
Trần Việt Bắc)

Thủy kinh chú sớ viết: “Nhà Tần đặt đồn phòng giữ biên giới ở Ngũ Lĩnh”. Hội Trinh chú,
theo “Hán thư, Trương Nhĩ truyện”, phía nam nước Tần có đồn biên giới ở Ngũ Lĩnh. Ngô
Nhân Kiệt nói: xét “Hoài Nam thư”, Tần Thủy Hoàng phát 50 vạn binh, sai Mông Điềm xây
thành, sai úy Đồ thư phát 50 vạn binh chia làm năm quân đoàn, một quân đoàn đóng ở
đàm thành, một quân đoàn giữ biên giới Cửu Nghi, một quân đoàn giữ đô thị Phiên Ngu,
một quân đoàn giữ biên giới Nam Dã, một quân đoànđóng ở sông Dư can, phù hợp với
“Trương Nhĩ truyện”, gọi là Ngũ Lĩnh là như thế.
Nay xét theo họ Lịch nói Ngũ Lĩnh là
Đại Dữu, Kỵ Điền, Đô Bàng, Manh Chữ, Việt
Thành
. Đại Dữu ở phía tây huyện Nam Dã thời Hán, Đô Bàng ở phía đông núi Cửu Nghi
huyện Doanh Đạo thời Hán, Việt Thành ở phía đông nam huyện Tầm Thành thời Hán, ba
núi này giống với sách “Hoài Nam”. Cho nên lấy Việt Thành làm một trong những đồn biên
phòng của Tần. Còn Kỵ Điền, Manh Chữ thì khác với Dư Can, Phiên Ngu. “Quế Hải ngu
hành chí” của Phạm Thành Đại nói: thành của Tần ở phía bắc thành Quế Lâm 80 dặm,
tương truyền là đất mà Tần Thủy Hoàng lập đồn biên phòng ở Ngũ Lĩnh, thành ở phía nam
sông Tương Thủy, ở khoảng giữa hai sông Dung và Ly, di chỉ vẫn còn, thành giếng đá
cũng không bị sụt lở. cáh phía bắc 20 dặm có cửa Nghiêm quan, có núi bọc quanh, đường
hẹp xe không thể đi song song được, ở phía tây nam huyện Hưng An ngày nay 40 dặm.

Những quan ải tại Ngũ Lĩnh:

Sử Ký , Nam Việt Úy Đà liệt truyện: " (Nhâm) Ngao chết, Đà lập tức truyền hịch bảo các cửa
quan Hoành Phố, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: Quân giặc sắp đến, phải chặn ngay
đường, tụ tập quân sĩ để tự bảo vệ".

Hoành Phổ quan, là Mai quan ngày nay (梅关 Meiguan)(23). Đây là một cửa ải quan trọng
bậc nhất trên rặng Ngũ Lĩnh từ Hoa hạ đến Lĩnh Nam. Ngày nay tại đây vẫn còn một thị xã
nhỏ sát ranh giới Giang Tây và Quảng Đông mang tên này. Từ Mai quan tới thị xã Nam
Hùng tỉnh Quảng Đông khoảng 30 km ( 19 dặm). Thời Tần có tên là Hoành Phổ quan, cửa
quan này nằm trên Đại Du (Dữu) lĩnh là một trong Ngũ Lĩnh, rất hiểm trở khó qua lại . Thời
Đường gọi là Tần quan. Năm 716, Tể tướng Trương Cửu Linh (24) mở rộng thêm bằng
cách đục đá xuyên qua núi bên dưới lối đi cũ để bớt độ dốc và lát gạch cho dễ qua lại. Phía
bắc cửa ải có khắc hàng chữ "Nam Việt Hùng quan" (南粤雄关), phía nam có khắc hàng
chữ "Lĩnh Nam Đệ Nhất quan".

Dương Sơn quan (25)(阳山关) ở phía đông nam Kỵ Điền lĩnh, gần Liên giang ( Lian jiang
连 江). Ngày nay thuộc huyện Dương Sơn (Yangshan 阳山), Thanh Viễn thị , góc tây bắc
tỉnh Quảng Đông.

Hoàng Khê quan (湟谿关) ở phía nam Kỵ Điền lĩnh, gần núi Hoạt Thạch, chỗ 3 con sông
hợp lại là Bắc Giang (Beijiang 北 江), Liên giang ( Lianjiang 连 江) và Ống giang (Wengjiang
滃 江) . Ngày nay thuộc huyện Anh Đức (Yingde 英德), Thanh Viễn thị (Qingyuan 清远) ,
phía bắc đô thị Quảng Châu.

Ngoài những ải trên được ghi lại trong Sử Ký, còn có
Ly Thủy quan là chỗ Sử Lộc đào kinh
Linh Cừ thông thủy đạo từ Tương giang nối với Ly giang để chuyển lương trong chiến dịch
xâm chiếm Lĩnh Nam.

3- Lĩnh Nam là gì? Ở đâu?
(theo tài liệu biên khảo “Giao Chỉ và Tượng Quận” của Trần Việt Bắc)

Địa thế: Lĩnh Nam là vùng đất phía nam của rặng Ngũ Lĩnh. Tuỳ theo sự giải đoán của từng
người hay nói chung là tùy theo quan niệm của từng dân tộc. Người Trung Quốc gọi vùng
Lĩnh Nam là đất của người Bách Việt gồm Quảng Tây, Quảng Đông , Phúc Kiến và phía
nam của Chiết Giang (vùng đất của các nước cổ thời là Mân Việt và Đông Việt). Người Việt
Nam gọi Lĩnh Nam là vùng đất gồm Quảng Tây, Quảng Đông và Cổ Việt là Bắc Việt ngày
nay, vì trong cổ sử của nước Việt nói về cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng như sau:
ĐVSKTT: " Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: ... Cho nên Trưng Nữ Vương tuy đánh lấy được đất
Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong" cũng
như truyện "Lĩnh Nam Chích Quái"của Trần Thế Pháp. Trong khi đó học giả Tây Phương
(26)nói Lĩnh Nam chỉ gồm có hai tỉnh là Quảng Tây và Quảng Đông. Tuy nhiên, nếu hiểu
một cách phổ quát thì Lĩnh Nam là vùng đất phía nam của Ngũ Lĩnh, gồm Quảng Tây,
Quảng Đông, Phúc Kiến, đảo Hải nam, phía nam Chiết Giang và Bắc Việt Nam ngày nay.
Vùng đất có các sắc dân không thuộc Hán tộc, khác hẳn về ngôn ngữ, phong tục và văn
hoá với dân vùng Hoa Bắc và Hoa Nam thời cổ.
Phía tây Lĩnh Nam là vùng cao nguyên của hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu, cũng là phía tây
của tỉnh Quảng Tây với rặng Ô Mông sơn (Wumeng shan 乌 蒙 山) và Lục Chiếu sơn
(Liuzhao shan (六诏 山 , sát với biên giới Việt Nam- Vân Nam và Quảng Tây). Đây là những
rặng núi tương đối khá cao để có thể phân biệt về ranh giới thời cổ. Phía đông bắc Lĩnh
Nam là các rặng núi Vũ Di sơn, Tải Vân Sơn và Liên Hoa Sơn, phân chia hai vùng Lĩnh Nam
và Dương Việt (huyện Mân Trung thời Tần). Phía đông và phía nam của Lĩnh Nam giáp
biển Nam Hải.

Vùng Lĩnh Nam có sông lớn thứ 3 của Trung Quốc là Tây Giang sau Hoàng Hà và Dương
Tử (Trường giang), Đây là thủy đạo chính của vùng Lĩnh Nam. Sông này tùy từng đoạn đã
được đặt bằng những tên khác nhau. Các đoạn sông này nối tiếp với nhau từ tây qua đông
theo thứ tự sau: Nam Bàn giang (tên cổ thời là sông Tường Kha) - Hồng Thủy hà, Tây
giang và Chu giang là đoạn nối với biển Nam Hải .

Sông Tây giang có những chi lưu chính ở phía bắc như Bắc Bàn giang, Liêu giang, Li
giang, Bắc giang và Đông giang. Những chi lưu ở phía nam như Hữu giang và Tả giang
(phát nguyện từ bắc Việt Nam) hợp lại là Uất giang, chảy vào Tây giang.

Khí hậu Lĩnh Nam khác hẳn với khí hậu Hoa hạ. Phía bắc Ngũ Lĩnh lạnh và khô, nhiều khi
mùa đông có tuyết, nhưng phía nam Ngũ Lĩnh – Lĩnh Nam- thì ấm áp quanh năm, đây là
vùng khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ thay đổi từ 10°C (tháng 11, 12, 1, 2) đến 30°C (tháng 5, 6,
7, 8). Thời gian trồng cấy từ 250 đến 320 ngày trong một năm ( nhiệt độ tối thiểu để có thể
cấy lúa là 10°C). Lĩnh Nam có nhiều mưa, tháng 5, 6, 7, 8 là mùa mưa, cao điểm là tháng 6,
vũ lượng lên tới 25cm (10 inches). Vũ lượng cho cả năm khá cao, 170 cm (67 inches) tại
Quảng Châu, 200 cm (80 inches) tại Hồng Kông, 180 cm (71 inches) tại Hà Nội.

Lịch sử: Trước khi quân Tần theo lệnh của Tần Thủy Hoàng đi mở rộng đế quốc nhà Tần
về phía nam, Lĩnh Nam không có những liên hệ nào đáng kể với vùng Hoa Hạ, ngoại trừ
những việc giao thương rất lẻ tẻ qua những vùng có thể đi bằng đường bộ (27). Sự qua lại
cực kỳ chật vật vì phải vượt qua những đường đèo hiểm trở tại rặng Ngũ Lĩnh. Văn hoá của
Trung Quốc chưa xâm nhập vào vùng Lĩnh Nam. Về phía đông bắc, sau khi nước Sở và Tề
xâu xé nước Việt của Câu Tiễn (28) năm 333 TCN, hậu duệ của vua Việt và một số dân Việt
chạy về phía nam là hai tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến. Tại đây hai nước nhỏ được lập nên
là Đông Việt và Mân Việt, vùng này được gọi chung là Dương Việt. Phía tây bắc của Lĩnh
Nam có nước Dạ Lang thuộc tỉnh Quý Châu, phía tây Lĩnh Nam có nước Điền ở vùng hồ
Điền Trì sát đô thị Côn Minh, tỉnh Vân Nam ngày nay. Mới đây các nhà khảo cổ đã khai quật
được 118 di chỉ của nước Điền, từ những di chỉ này, chúng ta biết dân nước Điền rất điêu
luyện về cách đúc đồng thau (bronze)(29)lúc cổ thời. Tại trung tâm của Lĩnh Nam có nước
Tây Âu là một nước khá lớn, nước này đã chống trả lại đội quân nam chinh của Tần Thủy
Hoàng một cách kịch liệt. Phía cực nam của Ngũ Lĩnh là nước Âu Lạc tức là Giao Chỉ hay
nước Việt Nam thời cổ (thời An Dương Vương - chú thích của VS).

Các sắc tộc: Lĩnh Nam (Quảng Đông, Quảng Tây và cổ Việt) gồm nhiều sắc tộc, người Hán
gọi chung là người Bách Việt, gồm nhiều bộ tộc đã định cư ở đây từ lâu đời. Cổ thời, trước
khi nhà Tần mang quân xâm chiếm, Lĩnh Nam có hai sắc tộc chính thuộc chủng tộc Thái là
Tráng (30)(Zhuang 壯) ở vùng Quảng Tây và Quảng Đông, Lê (31)(Li 黎) ở vùng bán đảo
Lôi Châu (Leizhou 雷州) và ven đảo Hải Nam (32). Xa về phía nam là dân tộc Lạc Việt tại
vùng Âu Lạc. Sau này lại có các sắc tộc thiểu số khác di dân đến đây sinh sống như người
H’Mông(33), người Dư (34), Di tộc (Lô Lô)(35), người Dao (36) v.v…

Dân số Lĩnh Nam:
Theo như Hán Thư , Điạ Lý chí của Ban Cố thì các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô,
Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, cộng lại được 215,448 nhà, và số nhân khẩu
là 1,272,390 (37) người. Đây là dân số Lĩnh Nam theo thống kê thời Tiền Hán (206 TCN – 9
).
Nước cổ Việt (thời Âu Lạc - chú thích của VS) gồm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật
Nam tổng cộng là 143643 nhà và 981,835 người.
Vùng Quảng Tây và Quảng Đông gồm 4 quận Nam Hải, Hợp Phố, Thương Ngô và Uất Lâm
là 71,805 nhà và 390,555 người.

Tỷ lệ dân số cổ Việt nhiều hơn 2.5 lần so với dân số hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây
Tuy nhiên, không phải tất cả dân chúng tham gia kiểm kê, nên người viết phỏng đoán là
dân số Lĩnh Nam ở đầu thế kỷ thứ nhất có khoảng 2 triệu người. Ngược lại 2 thế kỷ, trước
khi nhà Tần sang xâm chiếm, người viết phỏng đoán dân số tại Lĩnh Nam có khoảng 1.5
triệu người: 500 ngàn tại vùng Quảng Tây và Quảng Đông(38), 1 triệu người tại cổ Việt.
Chú thích :

(18) Độc giả có thể sao lại nguyên bản bằng chữ Hán tại: http://www.geocities.
com/fengshui_clasicos/HuaiNanZi.html

(19) Nguyên bản:
見 其 傳 曰 : 「 亡 秦 者 , 胡 也 。」 因 發 卒 五 十 萬 ,使 蒙 公 、 楊 翁 子 將 , 築 脩
城 , 西 屬 流 沙 , 北 擊 遼 水 , 東結 朝 鮮 , 中 國 內 郡 輓 車 而 餉 之 。 又 利 越 之 犀
角 、 象 齒 、翡 翠 、 珠 璣 , 乃 使 尉 屠 睢 發 卒 五 十 萬 , 為 五 軍 , 一 軍 塞鐔 城 之
嶺 , 一 軍 守九 疑 之 塞 , 一 軍 處番 禺 之 都 , 一 軍 守南 野 之 界 , 一 軍 結餘 干之 水
, 三 年 不 解 甲 弛 弩 , 使 監 祿無 以 轉 餉 , 又 以 卒 鑿 渠 而 通 糧 道 , 以 與 越 人 戰
,殺 西 嘔君 譯 吁 宋 。 而 越 人 皆 入 叢 薄 中 , 與 禽 獸 處 , 莫 肯 為 秦 虜。 相 置 桀 駿
以 為 將 , 而 夜 攻 秦 人 , 大 破 之 , 殺 尉 屠 睢 ,伏 尸 流 血 數 十 萬 。

(20) Đương nhiên là người viết có thể có những thiếu sót và sai lầm trong đoạn phiên dịch
này, xin các bậc tinh thông Hán học chỉ bảo.
(21) Người viết dùng tên Sử Lộc như trong sách "Việt Sử Toàn Thư ", của sử gia Phạm Văn
Sơn, trang 56

(22) Lưu An được phong Hoài Nam Vương (164BC) . Ông không nhập bọn theo "loạn 7
nước năm 154 TCN" thời Hán Cảnh Đế, nên được triệu về Trường An để tham chính .
Nguồn: Hán Thư của Ban Cố quyển 44, " Hoài Nam Hành Sơn Tế Bắc vương liệt truyện"

(23) Tham khảo từ sách "Tigers, Rice, Silk & Silt" của Robert B. Marks, trang 21-24, và
trong http://en.wikipedia.org/wiki/Mei_Pass
(24) Trương Cửu Linh (Zhang Jiuling 張九齡 678-740, thời Đường Huyền Tông 712-756).
Ông này quê ở Thiều Quan (Shaoguan, 韶關), phiá tây nam Mai quan, nên hăng hái mở
đường thông thương giũa Hoa Hạ và Lĩnh nam

(25) Sử Ký: Tam gia chú 阳山、○索隐姚氏案:地理志云揭阳有阳山县。今此县上流百馀里有
骑田岭,当是阳山关。
Dương Sơn, Linh Tác ẩn diêu thị án :Địa Lý chí vân Yết Dương hữu Dương Sơn huyện .
Kim thử huyện thượng lưu bách dư lý hữu Kỵ Điền lĩnh , đương thị Dương Sơn quan .

(26) Robert B. Marks: "Tigers, Rice, Silk & Silt- Environment and Economy in Late

Imperial South China", Cambridge University Press, 1998

(27) Hidden Trade Routes of The South : http://www.uglychinese.org/vietnamese.htm

(28) Lúc này vua nước Việt là Việt Vương Vô Cương 337 TCN-333 TCN

(29) Độc giả có thể xem những di chỉ này tại: http://news.gov.
hk/en/citylife/041109/html/041109en20004.htm#

(30) Ngày nay, Quảng Tây là Tráng tộc tự trị khu 廣西壯族自治區 (Guangxi Zhuang
Autonomous Region). Tổng số dân tộc Tráng khoảng 18 triệu người.

(31) Lê tộc ngày nay có khoảng 1.3 triệu người, hầu hết định cư tại đảo Hải nam

(32) Robert B. Marks: "Tigers, Rice, Silk & Silt- Environment and Economy in Late Imperial
South China", Cambridge University Press, 1998, trang 54.
(33) H’Mong ( Miao 苗族), tên cũ để gọi dân tộc thời xưa là Miêu tộc, tiếng Việt gọi là người
Mèo. Đây là một sắc tộc rất lớn, dân số lên tới 7.5 triệu người. Dân tộc H’Mông định cư tại
các tỉnh của Trung Quốc như Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Hải
Nam. Tại Việt Nam có khoảng có khoảng 800 ngàn người. Tại Hoa Kỳ có khoảng 275 ngàn
người.

(34) Dư tộc (She 畲) khoảng trên 600 ngàn người, định cư tại các tỉnh Phúc Kiến, Chiết
Giang, Giang Tây và Quảng Đông

(35) Di tộc ( Yi 彝族) tiếng Việt gọi sắc tộc này là Lô Lô. Đây là sắc tộc lớn khoảng 6.5 triệu
người, định cư tại các tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc.
Việt Nam có khoảng hơn 3 ngàn người Lô Lô tại các tỉnh Hà Giang, Lào Cai và Cao Bằng.

(36) Người Dao (Yao瑶族) khoảng trên 2 triệu người, định cư tại các tỉnh Tứ Xuyên, Quý
Châu, Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông của Trung Quốc. Việt Nam có khoảng nửa
triệu người Dao.

(37) Quận Nam Hải: 19613 nhà, 94253 người. Quận Uất Lâm: 12415 nhà, 71162 người.
Quận Thương Ngô: 24379 nhà, 146160 người. Quận Hợp Phố: 15398 nhà, 78980 người.
Quận Giao Chỉ: 92440 nhà, 746237 người. Quận Cửu Chân: 35743 nhà, 166113 người.
Quận Nhật Nam: 15460 nhà, 69458 người .

(38) Theo tác giả Robert B. Marks: "Tigers, Rice, Silk & Silt- Environment and Economy in
Late Imperial South China"[/i], Cambridge University Press, 1998, trang 55, Lĩnh Nam gồm
Quảng Đông và Quảng Tây (năm 206 TCN đến 200 TCN) có khoảng 72,000 nhà và từ
350,000 tới 400,000 người

4- Động Đình Hồ là gì? Ở đâu?

Hồ rộng lớn, ở phía Nam Dương Tử giang (còn gọi là Trường giang, sông dài 5000 km, dài
nhất Trung Quốc), ở tỉnh Hồ Nam. Hồ rộng vào khoảng 3300 cây số vuông về mùa cạn.
Mùa mưa lụt, rộng tới 10,000 cây số vuông. Mực nước sông Dương Tử dâng cao quá sẽ
chảy vào hồ Động Đình và hồ Bà Dương gần đó. Khi nước sông hạ thấp thì nước trong hồ
chảy ra sông, tránh được lụt lội. (Nguyễn Hiến Lê, Sách đã dẫn tr. 36).
Tuy nhiên, vào năm 1931, nước hồ dâng tràn thành lụt, giết hại 140,000 người, và 18 triệu
người không nhà cửa, đói vì mất mùa.
Theo “Thủy Kinh Chú Sớ”, sông Lễ Thủy phát xuất từ núi Lịch Sơn phía tây huyện Sung
quận Vũ Lăng, có hai nguồn: nguồn phía bắc từ huyện Tang Thực, chảy về phía đông, qua
huyện Vĩnh Định, Từ Lợi, Thạch Môn, An h của châu Lễ, đến phía tây nam huyện hoa
dung, vào hồ Động Đình. “Sông Lễ Thủy chảy vào hồ Động Đình, tục gọi đấy là cửa Lễ
Giang Khẩu”.
Ngoài ra, sông Nguyên Thủy ra từ huyện Thư Lan, quận tường Kha, làm sông Bàng Câu
Thủy chảy về phía đông vào hồ Động Đình.
Lại có sông Tư Thủy ra từ núi Lộ Sơn huyện Đô Lương, quận Linh Lăng, chảy về phía
đông, cùng sông Nguyên Thủy hợp lại ở hồ Động Đình.
(Thủy Kinh Chú Sớ tr. 461, 483, 514).
©2003 Hùng Sử Việt
5- Giao Chỉ là gì? Ở đâu?

Giao Chỉ và Nam Giao có cùng chung chữ “Giao”. Vậy “Giao” nghĩa là gì? Theo Hán Việt từ
điển (Đào Duy Anh), “Giao” có nhiều nghĩa: “1- Qua lại với nhau; Kết hợp nhau; Trước sau
tiếp nhau – 2- Ngày xưa gọi con Giao là con vật đồng loại với Rồng, thường làm cho giữa
biển sinh phong ba”.
Từ ngữ “Nam” và từ ngữ “Chỉ” khác nhau. Từ ngữ “Nam” có nghĩa là phương nam, đã rõ
nghĩa. Từ ngữ “Chỉ", có những nghĩa khác nhau: 1- Ngón chân – 2- Cái nền, quê quán.
Theo nghĩa thứ nhất, “Giao Chỉ có nghĩa là hai ngón chân giao nhau”, vì thế có thuyết nói
“Người Việt Nam ta trước có 2 ngón chân cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là
Giao Chỉ”. (Trần Trọng Kim, sách đã dẫn trang 5).
Nghĩa thứ hai: “Giao Chỉ có nghĩa là quê quán của loài Giao, tức nơi ở của một loài Rồng
nước, hoặc quê quán của người thờ Rồng nước, coi Rồng nước là Vật Tổ?”:
Sử  gia Phạm Văn Sơn viết: “Theo sự khảo cứu của ông Đào Duy Anh, ở đời thái cổ Nghiêu
Thuấn, Hạ Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc đương quanh quẩn ở
lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì ở miền Nam trong khoảng lưu vực sông Dương
tử, sông Hán và sông Hoài có những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người
phương Bắc. Trong thư tịch của người Trung Hoa, bọn người đó gọi là Man-di  sống ở bên
các bờ sông, bờ biển, các đầm hồ và trong các rừng hoang. Họ sinh hoạt bằng nghề chài
lưới, săn bắn. Họ có tục đặc biệt là xâm mình và cắt tóc ngắn; để giải thích phong tục đó
người ta nói rằng người Man-di hằng ngày lặn lội dưới sông, biển thường bị giống Giao
Long làm hại nên xâm mình thành hình trạng Giao Long để Giao Long tưởng là vật cùng
giống mà không giết hại.
 Từ thời Nghiêu Thuấn, một dân tộc khai hóa rất sớm là người Giao Chỉ đã giao thiệp với
người Hán tộc. Đem đối chiếu những điều trong thư tịch thì Giao Chỉ ở về miền Hồ Nam
ngày nay, gần hồ Động Đình và núi Nam Lĩnh.
 Người Hán tộc gọi nhóm Man-di đó là Giao Chỉ. Ban đầu người Giao Chỉ xâm mình để
thành hình trạng Giao Long rồi dần dần chính họ phát sinh mối tin tưởng mình là đồng
chủng của giống Giao Long. Quan niệm “Tô Tem” bắt nguồn từ chỗ này. Người Hán thấy họ
có hình trạng Giao Long        , thờ Giao Long làm tổ nên gọi nơi họ ở là miền đất của giống
người Giao Long” (Phạm Văn Sơn, sách đã dẫn trang 18, 19).
Dân tộc Lạc Việt cũng được người Hán gọi là Giao Chỉ, chính là người Việt cổ, tức tổ Tiên
của người Việt Nam ngày nay.
Vậy Giao Chỉ là giống dân Lạc Việt, sống rải rác và xen kẽ với nhiều sắc dân khác, đa số có
cùng chủng tính “cắt tóc ngắn, vẽ mình”, từ Động Đình Hồ (đất Bách Việt bao gồm Lưỡng
Quảng sau này) đến nước Hồ Tôn (nước Chiêm Thành xưa,  nay thuộc vể Quảng Bình
Quảng Trị phía Bắc Trung Việt).

6- Xích Quỉ là gì? Ở đâu?

Xích Quỉ là tên nước cổ Việt trong truyền thuyết, thời Kinh Dương Vương lập quốc (2879 tr.
TL), phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành),
phía tây giáp nước Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp biển Nam Hải.
Xích Quỉ nghĩa tiếng Hán là Quỉ Đỏ. Phải chăng đây là tên gọi “gợi hình” (gợi hình ảnh người
theo  tập tục vẽ mình (xâm mình) bằng nhiều mầu sắc đỏ? Tới thời Hùng Vương, tên nước
được đổi lại là Văn Lang, nghe thanh lịch hơn, mặc dù cũng có  nghĩa tiếng Hán là “người
đàn ông vẽ mình” gợi hình ảnh người phương Nam theo tập tục vẽ mình!

7- Bách Việt là gì? Ở đâu?

Bách Việt là từ ngữ mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người khác Hán sống ở miền
nam Trung Quốc thời xưa. Từ ngữ này lần đầu tiên thấy chép trong Sử ký (Ngô Khởi truyện)
của Tư Mã Thiên. Theo học giả  Đào Duy Anh, (sách đã dẫn,  trang 20): “Cái tên Bách Việt  
xuất hiện đầu tiên là trong sách Sử ký của Tư Mã Thiên, sách ấy chép rằng đời Chu An
Vương , Sở Điệu Vương  sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam”. (Sử ký, Bạch
Khởi Vương Tiễn truyện, q. 73). Bấy giờ là đầu thế kỷ IV tr. CN. Sách Hậu Hán thư, Địa lý
chí chép rằng : “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê, trên bảy tám nghìn dặm, người Bách Việt ở xen
nhau, đều có chủng tính” (Bách Việt tạp cư, các hữu chủng tính = nghĩa là người Bách Việt
sống lẫn lộn với các dân tộc khác, nhưng luôn luôn giữ cá tính của dân tộc , (Bách Việt Tiên
Hiền Chí, Trần Lam Giang dịch thuật) . Sách Lộ sử ở đời Tống (gồm 47 quyển của La Tất
đời Tống, chép từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế,  hay dẫn sách sấm vĩ  và sách đạo gia, nhưng
dẫn cứ rất rộng) chép rằng: “Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt... Tây Âu...gọi là Bách Việt”.
(Đất nước Việt nam qua các đời – Đào Duy Anh)
Như vậy, người Bách Việt bao gồm những sắc dân Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt....Tây
Âu...vân vân... nhiều giống Việt có chung “chủng tính” cắt tóc ngắn, vẽ mình.
Đất Bách Việt chính là nơi sinh sống, tụ hội của đa số những người “cắt tóc vẽ mình”, nên
Liễu Tư Hậu có câu thơ rằng: “ Cộng lai Bách Việt văn thân địa”, nghĩa là cùng đi tới đất
Bách Việt là xứ người vẽ mình. (Lê Tắc, sách đã dẫn trang 70).

8-  Văn Lang là gỉ? Ở đâu?

Chữ “Văn” theo nghĩa tiếng Hán là tô vẽ, “văn thân” là vẽ mình. “Lang” theo nghĩa tiếng Hán
là người con trai, đàn ông. Vậy theo nghĩa tiếng Hán, “Văn Lang” là người con trai, đàn ông
vẽ mình. Phải chăng “nước Văn Lang” trong truyền thuyết Việt Nam, theo nghĩa tiếng Hán
dùng để chỉ  “nước của những người đàn ông con trai vẽ mình”? Căn cứ vào sử liệu chép
trong Hậu Hán Thư cũng như trong  Lộ sử đời Tống, dân tộc Lạc Việt “cắt tóc vẽ mình” là
một thành phần của Bách Việt, đã ở xen nhau từ Giao Chỉ đến Cối Kê, trên một diện tích
bảy tám nghìn dậm, cùng được kể là người “Văn Lang” theo nghĩa tiếng Hán là người đàn
ông vẽ mình, hay người của nước những người đàn ông vẽ mình tức nước Văn Lang cũng
thế. Lý giải này có vẻ phù hợp với cương vực của nước Văn Lang trong truyền thuyết:
“Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang , nước này đông giáp biển Nam Hải, tây
đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, (nay
là Quảng Nam)” (ĐVSKTT, tr. 133) Tuy nhiên vấn đề cương vực nước Văn Lang còn đang
là một nghi vấn lịch sử, và là đề tài gây ra nhiều tranh luận.

  
Văn Lang là tên nước cổ Việt trong truyền thuyết. Theo sử gia Trần Gia Phụng: “ Truyền
thuyết là những câu chuyện bắt đầu từ sự thật lịch sử, được thêm thắt hoặc được tiểu
thuyết hóa, và được truyền tụng...”, như vậy truyền thuyết về nước Văn Lang cũng sẽ có
“phần sự thật lịch sử”, đó là sự hiện diện của  một Dân tộc Văn Lang, còn được gọi là dân
tộc Lạc Việt, một thành phần của Bách Việt, với chủng tính “cắt tóc ngắn, vẽ mình”, ở rải rác
từ Động Đình Hồ xuống tới vùng đất Hồ Tôn (tức nước Chiêm Thành sau này, ở vào khoảng
Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay): “sử sách Trung Quốc xưa gọi là Bách Việt là những
nhóm người Việt ở rải rác trên khắp miền Hoa Nam , phía tây gồm cả đất Vân Nam, phía
Nam gồm cả đất miền Bắc Việt Nam ta, sử sách thuờng gọi chung là miền Giang Nam (miền
Nam sông Dương Tử) và miền Lãnh  Nam (miền Nam Ngũ Lĩnh). Được biết rằng dân tộc Lạc
Việt trong nhóm Bách Việt sinh tụ đông đảo nhất ở lưu vực Nhị Hà (sông Hồng hay Hồng
Hà) thuộc Bắc Việt ngày nay, và do các vị vua Hùng cai trị.  
Về ranh giới, tức cương vực nước Văn Lang, có thuyết cho rằng nước Văn Lang giới hạn
trong 15 “bộ” (có sách chép là bộ lạc) gồm có 3 danh sách khác nhau. Thí dụ danh sách
của “Việt Sử Lược” : Giao Chỉ, Việt Thường Thị, Vũ Ninh,  Quản Ninh,  Gia Ninh, Ninh Hải,
Lục Hải, Thang Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Hoan,
C ửu Đức (Đất nước Việt Nam Qua Các Đời - Đào Duy Anh tr. 18), trong đó không có “bộ”
nào ở ngoài lãnh thổ đất Bắc Việt ngày nay. Thuyết này đã bị phê phán: Học giả Lê Quí
Đôn (1726-1784) trong Văn Đài Loại Ngữ đã nhận xét : “...Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối
đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận
huyện do nhà Hán, nhà Ngô (Trung Hoa) mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn, tôi ngờ rằng những tên
đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được...” (Trần Gia Phụng, sách
đã dẫn trang 11, 12).
Học giả Đào Duy Anh cũng nhận xét: “Xem nội dung các danh sách ấy (tên 15 bộ của nước
Văn Lang theo truyền thuyết) thì có thể đoán rằng khi các sử gia xưa của nước ta muốn cho
nước Văn Lang trong truyền thuyết một nội dung cụ thể thì họ đã lấy các tên đất ở các đời
từ nhà Đường trở về trước, chọn lấy một số tên, một là nhằm cho đủ số 15 bộ  trong truyền
thuyết, hai là nhắm làm thế nào để cho 15 tên đất ấy trùm được cả địa bàn sinh tụ của tổ
tiên ta ở thời Hùng Vương.” (sách đã dẫn, trang 18)
Tóm lại, tên 15 bộ trong truyền thuyết Văn Lang, không xác thực (không đáng tin), thì lập
luận cho rằng 15 bộ (hay bộ lạc) của Văn Lang chỉ giới hạn trong lãnh thổ đất Bắc Việt
ngày nay, đã mặc nhiên trở thành một nghi vấn lịch sử.  Sự thật lịch sử còn lại trong truyền
thuyết Văn Lang là có một dân tộc “cắt tóc ngắn, vẽ mình”,  tức “Văn Lang” theo nghĩa tiếng
Hán, với một nền văn hóa đặc thù phát triển rất sớm (có thể từ thời đồ đá?), đã sinh sôi nẩy
nở hoặc đồng hóa các dân tộc tiếp cận (do tính văn hóa cao và áp đảo), để chiếm hẳn một
vùng đất rộng lớn từ Động Đình Hồ tới đất Hồ Tôn (nước Chiêm Thành sau này).  
Câu hỏi tại sao cương vực đất Văn Lang lại bắt đầu từ Động Đình Hồ về phía Bắc và ngừng
lại ở phía Nam thuộc đất Hồ Tôn (ngang với vùng đất Quảng, Bình Quảng Trị ngày nay)?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta thử tìm hiểu về địa lý và lịch sử Trung Quốc trong cùng thời
gian này (2879 – 207 tr. Tây Lịch):
Về phương diện địa lý, phương Bắc và phương Nam Trung Quốc có khí hậu và đất đai khác
hẳn nhau: “...ta có thể phân biệt hai miền lớn: từ lưu vực sông Dương Tử (cũng gọi là
Trường Giang) trở xuống là miền Nam xưa gọi là Giang Nam vì ở phía Nam Dương Tử
Giang). Hai miền đó, địa thế và khí hậu khác nhau, nên ảnh hưởng đến con người cũng
khác.”
“Miền Bắc (các nước Tấn, Tần, Tề, Vệ, Lỗ, Tống...) khí hậu lạnh lẽo, đất cát khô khan, cây
cỏ thưa thớt, phong cảnh tiêu điều, sản vật hiếm hoi. “Mưa rất ít, trời quanh năm xanh biếc,
không một đám mây, đất thì mênh mông một mầu cát vàng (Hoàng thổ, tiếng Pháp gọi là
loess, phù sa của sông Hoàng Hà), ít có cây cao che tầm con mắt” (Vương Chí Hoán), chỉ
toàn một loài cỏ, khi gió ào ào thổi, cỏ rạp xuống, ta thấy lô nhô những bầy bò và dê, dân
trồng lúa mì, kê và mục súc.”
“Miền Nam (như các nước Sở, Ngô, Việt...) “khí hậu ấm áp, cây cỏ xanh tươi, phong cảnh tốt
đẹp, sản vật phong phú. Núi lởm chởm, hết ngọn này đến ngọn khác, mây trắng phủ quanh
năm; sông rạch quanh co uốn khúc, như bồi hồi luyến tiếc cành xanh hoa thắm mà không
nỡ rời” (Tạ Linh Vận). Mưa nhiều, đất cát phì nhiêu, trồng được lúa gạo mà năng xuất gấp
hai lúa mì. Thường có nhiều cơn dông hãi hùng, nhưng khi trời tạnh thì cảnh thật rực rỡ,
trời nước một mầu trong tươi.” (Nguyễn Hiến Lê, sách đã dẫn trang 32, 33).
Về phương diện lịch sử: Dân tộc Trung Quốc (Hán tộc) tin vào huyền thoại về ông Bàn Cổ
sinh ra trời đất và dân tộc Trung Hoa. Sau đó là Tam Hoàng (Thiên Hoàng, Địa Hoàng,
Nhân Hoàng...) và Ngũ Đế (Thái Hạo,  Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hạo, Chuyên Húc...) trị
vì dân tộc Trung Hoa từ khoảng 2900 – 2350 tr. Tây Lịch. Tiếp theo là  vua Nghiêu (2356
–2255 tr. TL),  vua Thuấn (2255-2205 tr. TL),  Nhà Hạ (2205-1767 tr. TL), Nhà Thương
(1766-1112 tr. TL), Nhà Chu (1111-256 tr. TL).
Từ Nhà Hạ về trước thuộc thời đồ đá mới. Từ Nhà Thương đến nhà Đông Chu (Chiến
Quốc) thuộc thời đồ đồng và từ thời Chiến Quốc (nhà Chu) đến Nhà Tần (221-206) thuộc
thời đại đồ sắt.  (Cũng nên biết thêm, thời nhà Triệu (207 – 111 tr. CN) nước Nam Việt phải
nhập cảng sắt từ Trung Quốc. Theo khoa học khảo cổ, miền Bắc  VN thời đồ đồng phát
triển mạnh mẽ vào thời kỳ Văn hóa Đông Sơn - đầu thế kỷ thứ II tr. CN – đến đầu thế kỷ I
sau Công Nguyên, tức là  vào thời nhà  Triệu (Một thế kỷ Khảo cổ học VN – tr. 12).
Thời Hoàng Đế, “uy quyền của Hoàng Đế ước thúc được các Chư hầu, vua bèn thu hết đất
đai rồi đem phong lại cho chư hầu nào đầu hàng, bấy giờ có đến vạn nước, Trung Hoa
thành nước phong kiến bắt đầu từ đó”.(Phan Khoang, sách đã dẫn trang 9).
“Uy quyền của một chư hầu lan tới đâu thì đó là biên giới”. (Nguyễn Hiến Lê, sách đã dẫn,
trang 72).
Vậy, trong thời kỳ “Tiền Tần”  tộc Hán còn ở phía Bắc Động Đình Hồ, có nền văn hóa khác
hẳn với tộc Việt phương Nam, nên “biên cương chủng tộc” của tộc Việt (cắt tóc vẽ mình tức
Văn Lang)  đối với tộc Hán (văn hóa đội nón, mang đai), giới hạn ở Động Đình Hồ, và “biên
cương chủng tộc” của tộc Việt  (Văn Lang) về phía Nam giáp với nước Hồ Tôn (tức Chiêm
Thành theo văn hóa Ấn Độ). (Ý kiến này trùng hợp với ý kiến của Sử gia Phạm Văn Sơn:
“Tên Văn Lang này được đặt ra do một quan niệm về chủng tộc để phân biệt với Hán tộc là
giống dân không vẽ mình chớ không phải là tên một nước” (Việt Sử Toàn Thư, trang 52).
Người ta ngờ rằng, trước thời kỳ nhà Tần  xâm lăng Bách Việt (214 tr. TL), việc thống nhất
đất đai các bộ lạc (tương tự như các chư hầu phương Bắc) để lập thành một nước hay một
quốc gia có biên giới giống như nước Việt Nam ta ngày nay, chưa thể xẩy ra tại cổ Việt?
Nền văn hóa và văn minh phương Bắc như mặc áo mang đai, đội nón, dùng bàn ăn, ngồi
ghế buông thõng 2 chân xuống... là do thời tiết lạnh, quen ngồi trên lưng ngựa buông thõng
2 chân xuống,  lo phấn đấu, có tài phát minh sớm để mưu sinh và sống còn...Trái lại, văn
minh và văn hóa phương Nam ở xứ nóng, người ta để mình trần và đầu trần cho bớt nóng,
thích ngồi xếp vòng tròn dưới đất theo thói quen ngồi thuyền...vì sản vật dồi dào nên tính
tình dễ dãi, sống hoà bình, ít phấn đấu và phát minh. Vả lại khí hậu oi bức dễ khiến cơ thể
người ta mau mỏi mệt và buồn ngủ, nên cũng kém linh hoạt hơn ngưòi miền Bắc. Tuy nhiên
đây chỉ là nhận xét chung chung. Thực tế,  có nhiều trường hợp ngoại lệ, thí dụ người sống
ở miền Bắc nhưng lại lười biếng, trong khi người ở miền Nam đã phát minh, sáng chế được
nhiều cái ích lợi cho nhân loại.
Tóm lại, ở thời cổ đại, người Giao Chỉ hay Lạc Việt sống rải rác từ Động Đình Hồ tới nước
Hồ Tôn có phong tục tập quán hay “chủng tính” khác hẳn với tộc Hán sinh sống ở phía Bắc
sông Dương Tử, nên không thể trộn lẫn với tộc Hán. Tương tự vế phía Nam, phong tục tập
quán của người Lạc Việt cũng khác với phong tục tập quán người Chiêm Thành, nên lằn
ranh hay biên cương đất đai những người “cắt tóc , vẽ mình.”, chỉ là “biên cương chủng tộc”.

9- Việt Thường là gì? Ở đâu?

Viêt Thường thị: tên nước thời cổ ở phía Nam Trung Quốc, có quan hệ với nhà Chu (hiến
chim trĩ cho Thành Vương ), lần đầu tiên được ghi trong sách Thượng thư đại truyện. Có
nhiều giải thích khác nhau, có thuyết nói Việt Thường thị ở miền quận Cửu Đức, tức miền
Hà Tĩnh (Thủy kinh chú, Cựu Đường thư); có thuyết nói Việt Thường thị  ở vị trí nước Lâm
Ấp đời sau (Văn hiến thông khảo, Minh sử, Minh nhất thống chí).” (chú thích của ĐVSKTT,  
tr. 131)
  
Tài liệu tham khảo:
-        Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Nhà Xuất Bản  KHXH
-        Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
-        Đại Nam Nhất Thống Chí - Quốc Sử Quán triều Nguyễn
-        Sổ Tay Địa Danh Việt Nam – Đinh Xuân Vịnh
-        Địa lý Việt Nam - Nguyễn Khắc Ngữ, Phạm Đình Tiếu
-        Sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê
-        Từ Điển Địa Danh Văn Hóa và Thắng Cảnh Việt Nam - Nguyễn Như ý,
 Nguyễn  Thành    Chương, Bùi Thiết.
-        Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí – Phan Huy Chú
-        Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn
-        Lịch Sử Dân Tộc Việt nam - Phạm Cao Dương
-        Sử Ký – Tư Mã Thiên
-        Thủy Kinh Chú Sớ - Lịch Đạo Nguyên, Dương Thủ Kính, Đoàn Hy Trọng, Trần Kiều (dịch)
 Biên khảo và Bản đồ của Trần Việt Bắc
Bản đồ số 1 - Ngũ Lĩnh (ngày nay là Nam Lĩnh (Hình vẽ của  Trần Việt  Bắc))
Bản đồ số 2- Ngũ Lĩnh-chi tiết (Hình vẽ của  Trần Việt  Bắc)
Bản đồ số 4 - 1 trong 5 địa điểm đồn trú của quân Tần: (Hình vẽ của  Trần Việt  Bắc)
Địa Danh Lịch Sử Việt Nam
qua các thời đại